Vỡ vào chuông giáo đường


Những năm đất nước còn chia cắt. Từ rất sớm miền Bắc đã chăm chú lắng nghe những tiếng vọng xa xôi của văn chương ở các đô thị, thành phố phương Nam. Cuốn thông báo khoa học của Đại học tổng hợp Hà Nội, in năm 1961 – 1962, giới thiệu những khuynh hướng văn học miền Nam đã nói đến Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền. In ở Sài Gòn 1956. Thời gian đã ố vàng trên từng trang sách. Gọi nhớ nhiều kỷ niệm khó quên. Mùa xuân năm 1970 và trước đó. Sinh viên văn khoa đã được nghe hệ thống các chuyên đề của Thầy Hồ Tấn Trai về văn chương miền Nam. Vốn người Thừa Thiên Huế. Trước cách mạng tháng 8-1945, thầy Trai dạy học tư ở Đà Lạt. Thời 1946 – 1947 từng là trưởng ty tuyên truyền của ta ở tỉnh Biên Hòa. Những năm 70, tóc thầy đã bạc sớm, thường trải ngôi ở giữa ngay ngắn. Mùa thu luôn luôn thấy thầy  diện chiếc áo  vest khaki màu trắng ngà. Không hiểu vì sao học trò lại rung cảm với Phục sinh của Thanh Tâm Tuyền. Có lẽ do giọng Huế của thầy nhẹ nhàng mà lại trầm buồn nữa. Thỉnh thoảng còn thêm tiếp đầu ngữ “Cho nên chi… cho nên chi” thật dễ thương. Với hoàn cảnh lịch sử thời “hai phe, bốn mâu thuẫn”, 2 dòng trong – đục trong văn chương mà Thanh Tâm Tuyền ở bên dòng đục, vậy mà sao sau khi gạt đi những từ ngữ vay mượn của chủ nghĩa hiện sinh, lời thơ Phục sinh thật trong sáng qua giọng đọc ngọt ngào xứ Huế; Dường như đã gặp cái ánh nắng trong lành và tiếng chuông yên bình ấy ở đâu đây trên xứ sở của mình mà tôi không nhớ được ra.

Ngoài phố nắng thủy tinh
Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi.

Không ai nói cho thầy Trai hay cái kết quả vô thức ấy.

Đã hơn nửa thế kỷ qua. Hiện tượng thi ca Thanh Tâm Tuyền vẫn còn là ẩn số với những ý kiến đối lập nhau từ hồi 1956 đến nay. Ngay như ông Võ Phiến- Một nhà văn nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 cũng coi nhẹ thơ Thanh Tâm Tuyền, mà hậu duệ của nhà văn  họ Võ mới đây gọi là một thứ hàng nhái cực mốt hồi cuối thập niên 1950. Không phải không có ý kiến còn cho là Thanh Tâm Tuyền làm thơ bằng tiếng Pháp rồi dịch sang tiếng… An Nam; Là đứa con ngoài giá thú của chủ nghĩa hiện sinh. Ngược lại, có người không ngần ngại coi Thanh Tâm Tuyền là thi sỹ tiên phong tiêu biểu cho cách tân thi ca Việt Nam lần thứ 2 sau Phong trào Thơ Mới 1930 – 1945. Còn thi ca ở miền Bắc chỉ là sự lặp lại thơ của phong trào ấy mà thôi. Số phận của thi nhân vẫn nằm giữa hai dòng nước chảy xiết ấy.

Không nghi ngờ gì nữa, cuộc cách mạng thơ ca lớn nhất thế kỷ 20 đã xảy ra hồi 1930 – 1945 mang tên gọi Phong trào Thơ Mới đã đưa thi ca Việt Nam có diện mạo khác, thậm chí so với cả 9 thế kỷ trước đó. Nửa sau thế kỷ 20, bắt đầu từ 1945, đã xuất hiện những hướng đi hứng khởi cho cuộc cách tân. Điều đáng lưu ý là nó không phải xuất phát và bị thúc đẩy bởi các lý thuyết và chủ nghĩa trong sáng tạo thi ca từ nước ngoài mà chính từ hiện thực cuộc sống của dân tộc đã cổ vũ và thổi vào hồn thi sỹ những giai điệu  bắt nhịp cho thi ca. Năm 1948 – năm vô cùng gian lao của cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm cầm cự và phòng ngự trên chiến trường đánh giặc. Vậy mà đó lại là mốc thời gian một loạt các thi sỹ bước lên diễn đàn thi ca với cảm hứng bi hùng và nhịp điệu thơ tự do dài ngắn linh động, dẽ dàng chưa từng thấy trong thơ 1930 – 1945. Tây Tiến của Quang Dũng. Nhớ của Hồng Nguyên. Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm. Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông…. Và trước đó 1946 – 1947 là Nhớ Máu- Tình Sông Núi của Trần Mai Ninh. Đèo cả của Hữu Loan… Đến 1949, Nguyễn Đình Thi táo bạo với những sáng tác về thơ tự do, thơ không vần… Cuộc tranh luận quyết liệt giữa các thi nhân về đổi mới thi ca đã diễn ra dưới những cánh rừng già Việt Bắc. Không phải ở các salon văn học sang trọng trong thành phố sáng đèn. Nó diễn ra trong chiến hào đánh giặc đầy máu lửa và trong hoàn cảnh đội quân vệ quốc đoàn – Vệ túm áo rách dầm sương của cách mạng đang bị địch bao vây. Nói như thế để thấy hồn thơ ấy đẹp biết chừng nào.

Trường hợp của Thanh Tâm Tuyền có khác. Ông mong muốn cách tân thi ca từ lý thuyết hơn là từ thực tiến đời sống. Chủ nghĩa hiện sinh thúc giục ông từ bỏ lối viết cũ để tiến đến một phương thức mới của sáng tạo thi ca. Mặc dù Thanh Tâm Tuyền viết Nỗi buồn trong thơ hôm nay như là một tuyên ngôn thơ cho bản thân mình lại có nội dung cỗi lõi nhất là thi ca cần rời bỏ những tháp ngà nghệ thuật để đi vào đời sống hàng ngày. Nói theo cách nói của ông, thơ là phương tiện để gặp được cái hiện tại tầm thường. Ông kêu gọi những bậc tiền nhân hãy nhường cho mình hiện tại. Mặc dầu vào thời điểm đó chủ nghĩa hiện sinh đang rất thịnh hành ở phương Tây, đặc biệt là ở Pháp. Nhưng Thanh Tâm Tuyền chưa hẳn đã nẩy đom đóm mắt muốn nguyền rủa quá khứ và công đầu của ông cũng không đến nỗi biến nàng thơ thành… Prostitute như một nhà phê bình danh tiếng đã viết. Nặng nề quá. Một người có tâm địa như thế thì làm sao mà viết được thơ, theo ý nghĩa đơn giản nhất của từ đó.

Thanh Tâm Tuyền có ba tập thơ. Tôi không còn cô độc. 1956. Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy. 1964. Thơ ở đâu xa. Xuất bản ở Mỹ năm 1990. Trong số này Tôi không còn cô độc viết năm thi sĩ mới vừa tròn 20 tuổi là đáng kể hơn cả vì nó tập trung những phẩm chất sáng tạo cũng như định vị Thanh Tâm Tuyền như một trong những người đầu tiên đột phá khẩu việc làm mới thơ Miền Nam những năm cuối cùng của 1950 ở hai phương diện. Một là. Nỗi buồn trong thơ hôm nay Thanh Tâm Tuyền nói rõ chủ ý: Thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể. Thơ hôm nay là thơ tự do. Độ dài ngắn của câu thơ khác nhau. Không câu nệ về vần. Nhịp điệu thơ thực hiện theo phương thức mới. Thanh Tâm Tuyền quan niệm nhịp điệu của thơ tự do là nhịp điệu của ý thức được kết thành từ nhịp điệu của hình ảnh và nhịp điệu của ý tưởng. Quá trình kết hợp ấy là tự do vươn tới sự thống nhất trong khi phải trải qua sự chia xé mãnh liệt.

Thứ hai là. Cảm xúc và hình tượng thơ phi lý và siêu thực được coi là phương tiện đặc trưng nhất của thi ca. Thanh Tâm Tuyền muốn làm một người hèn mọn kiêu hãnh để gặp được hiện tại tầm thường, trong con mắt nửa tỉnh nửa ngái ngủ để thấy sự vật hiện hình lên những hình thù quái đản. Đó là một kiểu Hàn Mặc Tử không phải trong Mùa xuân chín hay Đây Thôn Vỹ Dạ mà là đi dưới ánh trăng tàn úa không phải trên Thượng thanh khí mà ở dưới trần gian. Những bài thơ hay nhất của Thanh Tâm Tuyền gửi lại cho chúng ta ngày nay cũng thể hiện phẩm chất thi sỹ thành công nhất trên hai phương diện ấy. Ở đây tôi là vị Hoàng đế. Chim. Định nghĩa một bài thơ hay. Hoa. Mắt biếc. Mặt trời. Phiên khúc 20. Phục sinh. Về Quách Thoại. Với hai phương diện ấy, thơ Thanh Tâm Tuyền đã đưa tới một tiếng nói khác biệt cho thi ca. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế ở Thanh Tâm Tuyền không ít bài thơ, câu thơ khó hiểu hơn cả thơ dịch. Đặc biệt hầu hết những bài thơ văn xuôi dài đều trúc trắc và đôi khi luẩn quẩn. Nhưng nếu chỉ có thế thôi đã không có một Thanh Tâm Tuyền như là một số ít tiêu biểu của thi đàn miền Nam trước 1975.

Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ đầu tiên Thanh Tâm Tuyền giành nhiều tâm nguyện cho việc phát biểu quan niệm sáng tác. Không ở đâu như ở đây, Thanh Tâm Tuyền đã bộc lộ những mâu thuẫn giằng xé tưởng như không bao giờ dứt. Định nghĩa một bài thơ hay, Thanh Tâm Tuyền viết.

Hãy đánh rơi vào buổi chiều của trời
Một cuộc đời tròn như hạt cốm
Mùa thứ ba trong năm nhỏ sữa
May mắn như bài thơ gồm những âm trắc đồng tình.

Giá như ông dừng lại ở đây thì đẹp biết bao nhiêu. Vậy mà qua vài dòng ông lại viết.

Một câu thơ hay tự nhiên như lời nói
Một bài thơ hay là cái chết cuối cùng

Câu thứ nhất thật đúng. Câu thứ 2 có cần thiết phải kết cục như thế hay không? – Tôi nghĩ là không. Không nhất thiết như thế. Thi sỹ đã tự mâu thuẫn với bản thân mình không chỉ trong 2 dòng thơ mà suốt cả chiều dài Tôi không còn cô độc. Cũng như không phải một lần Thanh Tâm Tuyền muốn trở về với truyền thống, về với những câu lục bát rưng rưng cuối đường. Tự nhủ mình phải viết những lời thơ thật tự nhiên và nhất quyết một con đường.

Không đa đa siêu thực
Thẳng thắn
Khởi từ ca dao sang tự do.

Bài Mưa ngủ, có lẽ là một trong số ít bài thơ văn xuôi hay của Thanh Tâm  Tuyền. Mưa như nói hộ lòng yêu thương quê hương xứ sở. Khi mưa bên kia sông mưa nửa dòng nước để thi sỹ đưa em về bên ấy chân đê hoa cỏ hoang dại, những chuyến đi xa của đời ta theo mưa về ngủ trên mái rạ, đêm hiền lành như dâng lên từ cửa bể bến sông, giọt mưa đẹp như mắt ngủ, Thanh Tâm Tuyền đã hai lần nói về ước nguyện Hồn nhiên tôi trở thành thi sỹ ca dao. Nhưng thi sỹ đã tự mâu thuẫn với mình và đã không làm như vậy. Cái chất siêu thực và huyễn hoặc ẩn chứa trong nhiều dòng thơ tự do đã níu kéo ông trở lại. Thế giới nội tâm của Thanh Tâm Tuyền như mưa trên hai bờ của một dòng sông để Tâm hồn là cánh đồng chưa khai phá. Thơ ông trên bờ sương khói của siêu thực, ngả mình vào những cảm xúc phi lý suốt 20 năm một đời thơ (1955- 1975). Kỳ lạ thay, đến khi ông nằm trong trại cải tạo, dường như chỉ khi ấy ông mới thực sự chạm đến những đắng cay nhất để hiểu rằng cuộc đời không còn khoảng trống nào để viển vông được nữa. Khi ấy ông mới thực sự bước vào lĩnh vực đời thường mà buổi đầu tiên cầm bút làm thơ ông đã ước mơ. Một thi sỹ ca dao từng nắc nỏm trong thơ thuở trước. Tiếc thay. Bản năng sáng tạo của người thi sỹ khi ấy đã nhạt nhòa đi quá nhiều. Thanh Tâm Tuyền trong Thơ ở đâu xa trang trải với cuộc đời bình dị. Chiều cuối năm lũ trẻ mặt lem luốc co ro đứng xem đoàn tù nhân qua thôn hay cảnh cô sơn nữ áo hồng đi bừa với con trâu trắng mà ngỡ như Nhạn lai hồng lạc cuối thôn… Thơ ở đâu xa mặc dù có rất nhiều mùa xuân, rất nhiều ánh nắng mà sao tôi thấy câu thơ nôm na quá chừng. Những bước đi cuối cùng không còn xuân sắc như một thi nhân. Thế giới nội tâm trong quan niệm sáng tác của Thanh Tâm Tuyền là một khối mâu thuẫn lớn. Khi ông tuyên bố thơ ông không hề có tình yêu – cái báu vật mà ông hằng mơ ước. Vậy mà chữ yêu dường như hiện lên ở tất cả các dòng thơ. Thanh Tâm Tuyền  bảo xin đừng gọi ông là thi sỹ. Vậy mà cả cuộc đời con người ấy lại chỉ sống chết với thơ mà thôi. Ít nhất cũng là ở cái phần tâm linh nhất.

Thi nhân tự nhận mình là Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường về quá khứ hay như chim bay vào trận mưa sao. Người bộ hành ấy đi mãi vào bóng đêm mà chưa ra khỏi được thế giới cô độc của bản thân mình. Có người nói: Cái tôi trong Thơ mới 1930-1945 là cái tôi đối diện và đúng hơn là đối đầu với thực tại. Còn ở Thanh Tâm Tuyền không có sự đối đầu ấy nữa mà lơ lửng giữa cái tôi và thực tại. Tôi không thấy sự khác nhau ấy. Bởi vì chính ông ấy đã từng nói người làm thơ hôm nay chỉ là tên ăn mày giữa đám đông mà thôi. Thơ Thanh Tâm Tuyền và Thơ mới 1930-1945 đều cùng phát triển theo một tuyến lấy cái tôi cô đơn như là một nét chủ đạo nhất của cảm xúc và hình tượng thơ. Nỗi cô đơn, cô độc là chủ thể trữ tình luôn choán chỗ cả một đời thơ Thanh Tâm Tuyền. Như một hồn lang thang không gặp được bóng mình. Có lúc bức bối. Ta đập tan hình hài và thức giấc. Bài thơ về Quách Thoại ở cuối tập Liên-Đêm-Mặt trời tìm thấy – 1964 lại cho thấy chẳng có mặt trời nào tìm thấy cả. Vẫn chỉ là lang thang cô độc của thân phận thi nhân.

Tôi bé nhỏ và tôi than thở
Những vì sao rụng bỗng đầy lề nhân gian
Người thi sỹ bay vào miền đất lạ
Không nhớ mảy may biển gió cát muôn trùng
Ở đây tôi còn mở mắt
Dìu linh hồn lang thang

Không có mặt trời tìm thấy, chỉ là những vì sao rơi rụng đầy lề nhân gian. Năm 1956 bài Mặt trời, Thanh Tâm Tuyền cho là Câu chuyện mặt trời hoang đường như đôi mắt tình nhân. Năm 1964, bài thơ văn xuôi Mặt trời tìm thấy còn loang lổ sự hoang đường thủa trước buổi sớm còn ánh trăng, đêm thành phố đã tắt thi nhân không biết nơi hẹn hò là nơi nào. Những chùm lá hiện lên mùa đông trong thành phố không quá khứ.

Những vần thơ mang đậm mầu sắc siêu thực hay nhất của Thanh Tâm Tuyền là nói về cô đơn. Thi sỹ không chuyển cô đơn lên bầu trời mà vục mặt vào cô đơn. Giữa màn sương khói ấy, tình yêu xứ sở có lần hiện lên thật giản dị. Như một chỗ trên xe buýt mà thôi.

Mỗi ngày chúng ta đứng bên nhau không quen nhau
Thân mật ngó lên mái tóc rối nền trời khuya
Ngó vào mắt hoang xa dòng sông không bờ
Sau một ngày làm việc em mơ về khói ấm khuôn mặt riêng…

Rời khỏi thế giới cô độc, thơ Thanh Tâm Tuyền chạm vào sự thật trong sáng dịu hiền.

Tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
Trong sạch như một lần sự thật

Chạm vào ước mơ có thật. Thóc gặt về người phải dư ăn, bột mịn màng thừa bánh đề dành. Một quê hương có sữa hoa huệ ấm và cánh hồng ngọt vị tình yêu.

Thời gian không rời nhau mang đến bao nhiêu mưa
Dạy em yêu phía sau cửa sổ
Xứ sở như là sự đoàn viên tuổi trẻ
Xóa sạch oán thù
Nhường nhau là hết nói
Con về dựng lại cửa nhà
Trẻ con đi học trên đường rộng
Xứ sở như là hy vọng ở ngày mai
Đất nước yên lành tình sông núi
Cả lòng người thơm hương dạ hội
Trọn ngày mai, ngày mai….

Bài thơ Vang vang trời vào xuân viết ở trại Tân Lập Vĩnh Phú những năm 1978 – 1982 thật hào sảng. Tôi như nhìn thấy một Thanh Tâm Tuyền khác.

Vang vang trời vào xuân
Ta bật kêu mừng rỡ.

Tôi không còn cô độc, Thanh Tâm Tuyền đã một lần để thi sỹ giữ vai trò lĩnh xướng hội xuân.

Trong thời buổi hai trận tuyến không thể điều hòa, các thế lực ngoại bang mang chiến tranh xâm lược và chia cắt ập đến từng mái nhà nhỏ bé Việt Nam, việc phải dạt vào phía bên này hoặc phía bên kia bởi gia tốc mạnh mẽ của lịch sử đã chia đẩy số phận của hàng triệu, triệu con người. Đâu phải việc của riêng ai. Nếu không trên tinh thần bao dung và thức tỉnh như thế thì làm sao hàn gắn cho lành những vết đau thương mà lịch sử hiện đại đã để lại. Khi xem xét bất kỳ một tác giả thơ nào, tôi trước hết không để ý đến việc họ theo trường phái mỹ học hay chủ nghĩa nào trong sáng tác văn chương mà trước hết xem xét thơ có hay không đã. Có phù hợp với những giá trị nhân bản của con người hay không? Cùng với Vũ Hoàng Chương và Tô Thúy Yên, Thanh Tâm Tuyền là 3 gương mặt tiêu biểu của thi ca Miền Nam (1955-1975). Với Thanh Tâm Tuyền được ghi nhận như là một thi sỹ thực hiện việc mở cánh cửa để làm mới thơ Miền Nam, sau những năm dài ngự trị của phong trào Thơ mới 30-45. Góp phần đổi mới thơ Việt Nam hiện đại.

Mùa xuân năm 2011. Đất nước đã đoàn viên được gần nửa thế kỷ. Tôi có việc lên Đà Lạt. Đúng vào lúc nắng đẹp nhất trong năm. Cái nắng thủy tinh mà tôi đã gặp từ thời trai trẻ trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Tĩnh lặng đâu đây tiếng chuông nhà thờ nhỏ nhẹ. Tôi giành một phần thời gian tìm thầy tôi – Giáo sư Hồ Tấn Trai. Để nói một điều dù đã muộn và dù là điều ấy cũng không có gì tuyệt đối hệ trọng nữa đối với ông. Nhưng không nói ra vẫn canh cánh bên lòng. Đó đâu phải là câu chuyện văn chương. Mà hơn thế nữa – là ân tình của cuộc đời này. Mọi số phận con người cứ bình thản trôi đi rồi có một lúc cũng như buổi chiều kia sao bỗng vỡ vào chuông giáo đường để chỉ còn lại ngân nga yêu thương và nhân ái giữa con người với con người. Nó như vượt qua được cái ranh giới của thực tại để đến được bình nguyên huyền diệu của chân thiện mỹ. Thi ca là tiếng chuông giáo đường của mọi thời đại để thức tỉnh tình yêu và lòng cao thượng của con người. Được biết sau 1975, Thầy Trai chuyển về đại học Văn Khoa ở Huế được mấy niên. Rồi lại chuyển lên Khoa Văn Đại học Đà Lạt. Tiếp tục nghề dạy học mà thầy đã làm ở đấy từ 1943. Nhưng đã muộn mất rồi. Thầy đã mất cách đó 6 năm. Từ 2005. Trước một năm Thanh Tâm Tuyền ra đi không trở lại ở Hoa Kỳ. Năm 2006. Những năm cuối đời ở Đà Lạt, thầy Hồ Tấn Trai có viết một trước tác với tiêu đề: Tôi học phật. In trong tập kỷ yếu của khóa 1959 – 1963 – khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thầy tôi bảo: Thầy học phật Để trị chứng nóng giận mà trị luôn chủ nghĩa cá nhân. Thiền để từ bỏ tham, sân, si. Thầy ước nguyện chỉ có một điều thật giản dị mà hư vô thăm thẳm: Làm sao tôi có thể sống như không có tôi. Thầy mồ côi cha từ rất sớm. Được tiếp xúc với đạo phật từ khi còn bé ở huyện Hương Thủy – Phủ Thừa Thiên một thời xưa cũ.

Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, mùa xuân 1971- 1972. Thanh Tâm Tuyền lên Đà Lạt. Ông viết bài nghị luận Dấu chân cũng bàn về Thiền và Phật, đăng trên tờ bán nguyệt san Văn xuất bản ở Sài Gòn 1971. Thi sỹ tỏ ý nghi ngờ về thiền bởi ông cho sự tầm thường dằng dặc bao trùm lên hết thảy. Thi sỹ khuyên người khác tiếp tục thiền. Còn ông sẽ thiền chút chút trước ly cà phê buổi sáng trong một quán đông người. Năm 1990 Thanh Tâm Tuyền đi Mỹ. Thế hệ thầy Trai và Thanh Tâm Tuyền cho đến lúc cuối đoạn đường đời, vẫn chưa thể gặp nhau. Trên nhiều phương diện của từ ấy. Cuộc đời của họ đã vỡ vào chuông giáo đường để chi còn lại tiếng ngân nga của ân tình và thức tỉnh.

Con người điềm đạm, trầm ngâm, ít nói, khi nói thì nói chậm rãi, chưa bao giờ hô hoán hay dùng những chữ kích động” giờ đã định cư tại Hoa Kỳ dưới tấm bia đá trắng xám phẳng phiu chỉ đường có ghi rõ tên khai sinh DZƯ VĂN TÂM. To hơn rất nhiều tên bút danh: Thanh Tâm Tuyền.

Mùa xuân ở Đà Lạt bây giờ vẫn còn đó. Cả thầy tôi và Thanh Tâm Tuyền đều không biết, từ năm 2007, người ta đã mang cây hoa Ban từ xứ xở khác về trồng ở nhiều con đường, dãy phố. Cứ mỗi khi mùa xuân về, hoa Ban lại nở trắng muốt dưới bầu trời hiền dịu nắng thủy tinh như chẳng hề hay biết những số phận con người đã có mặt ở đây./.

Khuất Bình Nguyên. 11-2017

Advertisements
Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Công khai 55 tập nhật ký của Tưởng Giới Thạch


Tưởng Giới Thạch [1], còn gọi Tưởng Trung Chính, là người đứng đầu Chính phủ Quốc dân Trung Quốc thời kỳ 1928-1949, từng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nhật trong 8 năm 1937-1945, khi ra Đài Loan lại làm Tổng thống chính quyền đảo này cho tới ngày qua đời ở Đài Bắc (5/4/1975). Tưởng cũng là nhân vật gây tranh cãi nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tuy mạng Bách Độ (Baidu) của Bắc Kinh đánh giá Tưởng là lãnh tụ dân tộc, là vĩ nhân trong lịch sử cận-hiện đại Trung Quốc nhưng nhiều người đại lục vẫn đánh giá rất xấu về Tưởng. Vậy thực chất con người Tưởng Giới Thạch như thế nào ?

Gần đây việc công khai phần lớn bộ Nhật ký Tưởng Giới Thạch gồm 55 tập, tổng cộng 10 triệu chữ đã góp phần giải đáp câu hỏi này. Đây là một sự kiện quan trọng, bởi lẽ lịch sử cận đại của Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề chưa được làm rõ, do hai phía Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân có quan điểm khác xa nhau về các vấn đề đó. Bộ nhật ký nói trên không những là một tư liệu lịch sử quan trọng mà còn giúp thiên hạ hiểu về thế giới nội tâm của Tưởng.

Tưởng Giới Thạch viết nhật ký từ năm 28 tuổi (1915), ngày nào cũng viết, suốt 57 năm liền, cho tới 3 năm trước khi mất, do tay run mới thôi. Trong nhật ký, ông viết cả về đời tư và công việc, các khuyết điểm của mình v.v… Chưa chính khách nào từng viết nhật ký kiểu như vậy. Ngoài 4 tập bị mất, hiện còn lại 63 tập nhật ký, bao trùm thời gian 53 năm. Đây là bộ nhật ký hoàn chỉnh nhất, đồ sộ nhất còn giữ được trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1975 Tưởng chết, con là Tưởng Kinh Quốc[2] giữ bộ nhật ký này. Chịu ảnh hưởng của cha, người con cũng viết nhật ký suốt đời. Vì thế mà có hai bộ nhật ký, chúng trở thành tài sản chung của các hậu duệ họ Tưởng.

Năm 1988, Tưởng Kinh Quốc chết, con út Quốc là Hiếu Dũng và vợ là Tưởng Phương Trí Di[3]giữ hai bộ nhật ký trên. Sau đó các hậu duệ họ Tưởng đều ra nước ngoài định cư. Lúc đó nhiều tập nhật ký đã có chỗ giấy bị mủn, chữ mờ hoặc mất chữ, ngoài ra do viết bằng mực nho (làm từ keo da trâu), khi trời nóng, mực chảy ra làm cho nhiều trang dính nhau. Sau khi chồng chết, bà Di bắt đầu nghĩ chuyện bảo quản lâu dài hai bộ nhật ký. Bà nghĩ như vậy là rất có trách nhiệm với lịch sử dân tộc.

Hồi đó tại Đài Loan xuất hiện xu hướng xóa bỏ vai trò của họ Tưởng.[4] Lãnh tụ đảng Dân Tiến là Trần Thủy Biển (Tổng thống xứ này thời gian 2000-2008) nói Tưởng Giới Thạch là người nước ngoài, là kẻ xâm lược Đài Loan. Giới sử học cũng không quan tâm tới hai bộ nhật ký nói trên. Chính quyền Đài Loan không thu xếp nơi lưu giữ các tài liệu về họ Tưởng, một trong Tứ đại gia tộc (Tưởng, Tống, Khổng, Trần) nổi tiếng.[5]

Vì thế, các hậu duệ họ Tưởng không thể không quan tâm tới đề nghị của Viện Hoover (Hoover Institute) thuộc Đại học Stanford (Mỹ) muốn được bảo quản hai bộ nhật ký này. Sau nhiều lần thương lượng, Tưởng Phương Trí Di thay mặt họ Tưởng thỏa thuận giao cho Viện Hoover bảo quản hai bộ nhật ký đó trong 50 năm dưới dạng ký gửi (deposit) chứ không có quyền sở hữu (own or possess); khi thời cơ chín muồi, các tài liệu này sẽ được “mãi mãi lưu giữ trên lãnh thổ Trung Hoa (Chinese territory, chưa nói rõ là đại lục hay Đài Loan)”.

Tình hình Đài Loan ba năm tiếp sau cho thấy quyết định để Viện Hoover giữ hai bộ nhật ký là đúng: Xu hướng loại bỏ họ Tưởng tăng dần, thậm chí có kẻ còn phá hoại các di tích liên quan họ Tưởng hiện có ở Đài Loan, như đốt Thảo Sơn Hành Quán, bôi sơn bẩn tượng Tưởng Giới Thạch v.v…

Cuối năm 2004, Quách Đại Quân và Mã Nhược Mãnh, hai cán bộ nghiên cứu người Mỹ gốc Hoa của Viện Hoover đến gặp các hậu duệ họ Tưởng tiếp nhận hai bộ nhật ký đưa về Viện. Tin này làm cho giới sử học Đài Loan sửng sốt, bây giờ họ mới tiếc nuối vì đã để tuột mất những tài liệu lịch sử vô giá.

Viện Hoover đã chi 3 triệu USD để tu sửa các trang nhật ký hư hỏng, chụp micro phim, làm photocopy v.v… trong mất hơn một năm. Viện cử giáo sư Quách Đại Quân thẩm tra, xử lý hai bộ nhật ký.

Nhật ký Tưởng Giới Thạch (sau đây viết tắt Nhật ký) viết bằng bút lông, chữ phồn thể, hành văn lối cổ, không chấm câu, không xuống dòng, ai không thạo cổ văn và lịch sử Trung Quốc thì khó mà đọc hiểu, chưa kể chữ viết tháu rất khó đọc. Trong một số tập có chỗ bị sửa lại hoặc bôi đen (có thể do chính tác giả làm) nên nội dung thiếu hoàn chỉnh.

Hồi đó phần lớn các hậu duệ họ Tưởng không ở Mỹ, vì thế họ ủy quyền cho bà Tống Tào Lợi Huyền, giáo sư thỉnh giảng của Viện Hoover, thay họ đọc và chỉnh lý Nhật ký.

Bà Huyền họ Tào, có chồng là Tống Trọng Hổ, con Tống Tử An. An là em trai của ba bà chị Tống Ái Linh (vợ Khổng Tường Hy), Tống Khánh Linh (vợ Tôn Trung Sơn, sau 1949 làm Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa), Tống Mỹ Linh (vợ Tưởng Giới Thạch) và ông anh là Tống Tử Văn (từng làm Thủ tướng Chính phủ Quốc Dân năm 1945). Hồi ấy do đang đọc các tư liệu của họ Tống lưu trữ tại Viện Hoover nên bà Huyền tin rằng họ Tống của mình có công lớn trong việc đánh đổ nhà Thanh, vì thế bà cũng quan tâm đến tư liệu của họ Tưởng. Bà Huyền có bằng tiến sĩ, giỏi tiếng Anh và Hán ngữ, – không như các hậu duệ họ Tưởng đều kém Hán ngữ cổ, – cho nên thích hợp với việc chỉnh lý các tư liệu của ba họ Tống, Tưởng, Khổng.

Sau đó, Viện Hoover nhiều lần thuyết phục họ Tưởng cho công khai Nhật ký trước công luận, chỉnh lý xong đợt nào thì công khai đợt đó. Tưởng Phương Trí Di đồng ý. Đây là một quyết định vô tư và dũng cảm, có lợi cho việc nghiên cứu sử Trung Quốc. Đáp lại, Viện đồng ý yêu cầu không công khai một số nội dung riêng tư không liên quan tới việc nghiên cứu sử học; các nội dung ấy sẽ được Viện này xử lý và công khai vào năm 2035.

Khi đọc các tập đầu Nhật ký, bà Huyền không thể tưởng tượng được nhân vật mình xưa nay kính trọng gọi là “Cụ Tưởng” (Tưởng Công) ấy lại có một thời trai trẻ trác táng đến thế. “Một người như vậy sao mà có thể trở thành Tổng thống nhỉ ?” – bà tự hỏi.

Là tín đồ Ki Tô giáo, bà Huyền có quan điểm đạo đức nghiêm khắc, không thể thông cảm với những chuyện ăn chơi sa đọa Tưởng ghi trong Nhật ký. Mãi sau bà mới biết rằng quan chức Trung Quốc hồi đầu thế kỷ XX có năm thê bảy thiếp và ăn chơi đồi trụy là chuyện rất bình thường.

Năm 1915, Tưởng Giới Thạch được thày học giảng cho biết viết nhật ký là để tự kiểm điểm bản thân, hiểu ra các lầm lỗi, qua đó mà tiến bộ. Từ đó Tưởng bắt đầu ghi nhật ký, sau khi làm bất cứ việc gì xấu, đều tự kiểm điểm và tự hứa phải “giới dục, giới sắc”, từ bỏ các ham muốn tầm thường. Trạng thái tâm lý vật vã tự đấu tranh của Tưởng khiến bà Huyền càng đọc càng say mê, và phát hiện thấy Tưởng rất nghiêm khắc với bản thân.

Viện Hoover đưa ra mấy nguyên tắc xử lý tư liệu: không được xóa hoặc sửa bất kỳ câu chữ nào trong bản gốc; chỉ được xử lý những vấn đề riêng tư và sức khỏe của cá nhân, tài chính gia đình và những chê trách không thân thiện với người ngoài gia đình.

Năm 2006, Viện bắt đầu cho công chúng đọc Nhật ký phần từ năm 1917 đến 1931. Năm 2007 lại công khai nhật ký thời gian 1932-45; năm 2008 công khai nhật ký cho đến 1949. Chỉ cần xuất trình bằng lái xe là ai cũng được vào đọc, nhưng chỉ được đọc micro phim, chỉ được chép tay, không được chụp ảnh hoặc photocopy, cấm mang máy tính vào phòng đọc. Điều kiện ngặt nghèo này đã hạn chế số người muốn đọc Nhật ký. Mấy ai có đủ nghị lực và thời gian chép cả chục triệu chữ Hán cổ ?

Năm đầu có khoảng 100 người Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Nhật, Hàn đến đọc; chỉ vài người đọc hết toàn bộ, chưa ai chép hết Nhật ký.

Mới đầu các hậu duệ họ Tưởng rất lo việc công khai Nhật ký sẽ khiến dư luận có ấn tượng xấu về Tưởng Giới Thạch. Nhưng kết quả lại làm cho Tưởng được đánh giá cao hơn trước, nhiều người Trung Quốc thấy rằng trước nay họ đã hiểu sai Tưởng Công.

Thí dụ họ luôn nghĩ Tưởng chỉ lo chống Cộng sản mà không lo chống Nhật xâm lược. Nhưng nhật ký Tưởng cho thấy trong ban lãnh đạo Quốc Dân Đảng thời ấy, Tưởng là người quyết tâm chống Nhật hơn ai hết. Hồi đó Nhật đã chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, dân chúng cũng như hầu hết chính khách nước này đều cho rằng không thể chống lại nổi quân Nhật, nếu kháng chiến thì các thành phố cùng các di tích lịch sử sẽ bị phá hủy, hàng chục triệu người sẽ thương vong. Nguyên Chủ tịch Quốc Dân Đảng Uông Tinh Vệ cũng chủ hòa với Nhật, về sau Uông lập Chính phủ thân Nhật ở Nam Kinh, đối lập với Chính phủ của Tưởng ở Trùng Khánh. Chính khách họ hàng Tưởng như Khổng Tường Hy (anh rể vợ), Tống Tử Văn (anh vợ), v.v…, trí thức lớn như Hồ Thích, Sái Nguyên Bồi cũng chủ hòa, duy nhất Tưởng chủ chiến. Trong Nhật ký có câu: “Cuộc chiến Trung-Nhật là không thể tránh được”, những người chủ hòa đáng “giết mà không tha”.

Trong Nhật ký ngày 21/8/1935, Tưởng dự đoán khá đúng về các giai đoạn của cuộc chiến: “1) Nhật muốn không đánh mà khuất phục được Trung Quốc. 2) Nhật chỉ có thể uy hiếp, phân hóa Trung Quốc, tạo ra lũ thổ phỉ Hán gian, làm Trung Quốc rối loạn mà không dùng vũ lực để chinh phục. 3) Sau cùng Nhật dùng binh lực tấn công. 4) Trung Quốc chống lại. 5) Do quốc tế can thiệp mà dẫn đến đại chiến thế giới. 6) Nội bộ nước Nhật nổi loạn làm cách mạng. 7) Giặc Lùn thất bại trong vòng 10 năm”. Phải thấy các dự đoán này rất có tầm nhìn, không thể chê Tưởng dốt chính trị.

Nhật ký cho thấy ngay từ năm 1933, trước Mao Trạch Đông khá lâu, Tưởng đã đề ra chiến lược đánh lâu dài, toàn dân kháng chiến, chờ thời cơ quốc tế thuận lợi mới phản công. Tưởng chủ động mở chiến dịch Thượng Hải (8-11/1937) diệt hơn 4 vạn quân Nhật, tuy phía Trung Quốc thương vong 30 vạn song Tưởng đã thành công giữ chân 37 vạn quân Nhật ở vùng Đông và Nam, để Nhật phải rải quân trên diện rộng, do đó không đủ sức đánh miền Tây, tranh thủ được thời gian sơ tán các cơ quan, nhà máy, trường học đến miền Tây xa xôi (Chính phủ Tưởng dời đô về Trùng Khánh) để chuẩn bị đánh lâu dài.  “Cuộc chiến này không ở chỗ thắng thua mà ở chỗ tinh thần dân tộc tăng lên hay giảm xuống”, “Thua mà không hàng, níu kéo giặc cho tới lúc chúng sụp đổ”,  – Tưởng viết.

Nhật ký cho thấy Tưởng thời trẻ từng say mê nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Năm 1923 trong diễn thuyết khi ở thăm Liên Xô, Tưởng nói cách mạng Trung Quốc “đi hai bước”, cuối cùng sẽ “thực hiện chủ nghĩa cộng sản”. Ông còn đồng ý cho con trai là Tưởng Kinh Quốc học 12 năm ở Liên Xô và vào Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong quan hệ với Mỹ, Tưởng kiên trì giữ “sự tôn nghiêm của quốc gia”, trong Nhật ký có những câu chửi “đế quốc Mỹ”. Sau khi ra Đài Loan, tuy chủ trương “phản công đại lục” nhưng Tưởng lại phản đối ý đồ của Mỹ định ném bom nguyên tử Trung Quốc và Điện Biên Phủ của Việt Nam. Nhật ký ngày 17/4/1954 viết: “Không được ném bom khinh khí, bom nguyên tử Mỹ xuống Việt Nam và đại lục Trung Quốc”. Ngoài ra tuy căm thù Đảng CSTQ nhưng trong Nhật ký không có câu nào chửi đảng này, khác hẳn những lời lẽ mà một số báo đài bên phía Đảng CSTQ từng dùng để thóa mạ Tưởng.

Nhật ký cho biết, mãi đến hai tháng mười ngày sau khi tại Bắc Kinh Mao Trạch Đông tuyên bố khai sinh nước CHND Trung Hoa, cha con Tưởng mới đáp máy bay rời Thành Đô ra Đài Loan. Tưởng Giới Thạch rưng rưng nước mắt ra lệnh cho máy bay lượn hai vòng tạm biệt thành phố này rồi mới đi hẳn.

Nhiều người cho rằng Tưởng viết nhật ký là để phô trương mình và do đó viết toàn những điều bịa đặt. Nhưng quan điểm đó không đứng vững bởi mấy lẽ sau.

Thứ nhất, trong Nhật ký có nhiều chỗ Tưởng viết những chuyện riêng và các tính xấu của mình lẽ ra nên giữ kín, như tật thủ dâm, hiếu sắc, “thấy gái là nổi dục vọng, cuồng lên không thể kiềm chế”, chuyện mắc bệnh lậu do lang chạ với gái điếm v.v..

Thứ hai, Nhật ký viết nhiều lời chê trách, chửi rủa thậm tệ hầu hết mọi người, kể cả người thân như Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, cộng sự cấp cao như Phó Tổng thống Lý Tôn Nhân, Hồ Hán Dân, Tôn Khoa v.v…, thậm chí Tưởng còn chê trách vợ (Tống Mỹ Linh) một cách nhẹ nhàng bằng câu “Duy tiểu nhân dư nữ tử nan dưỡng dã” (唯小人與女子難養也 / Lời Khổng Tử trong Luận Ngữ, tạm dịch : “Khó mà chung sống được với tiểu nhân và đàn bà”).

Thứ ba, sinh thời Tưởng chưa hề công bố bất cứ đoạn nhật ký nào hoặc lợi dụng nhật ký để đề cao mình, tuy rằng ông từng nhờ người chép lại Nhật ký để đề phòng bản gốc bị mất.

Dĩ nhiên các sự việc trong Nhật ký đều viết theo quan điểm cá nhân Tưởng, cho nên tuy cơ bản là viết người thực việc thực nhưng Nhật ký chỉ là một nguồn tài liệu tham khảo cho các sử gia.

Giáo sư Lã Phương Thượng ở Khoa Sử, Đại học Đông Hải, Đài Loan nói: Từ Nhật ký có thể thấy lộ trình nội tâm của một người từ “kẻ bình thường” trở thành “nhà lãnh đạo”. Tưởng Giới Thạch sống rất tiết kiệm, mặc áo vá, ăn uống thế nào cũng xong, không uống rượu, không hút thuốc lá, chỉ uống nước sôi để nguội.

Bà Quách Đại Quân nói: Trong Nhật ký thường có những chỗ phân tích thời cuộc quốc tế, qua đó có thể thấy Tưởng Giới Thạch có tầm nhìn khá cao, luôn xem xét vấn đề từ nhiều phương diện.

Giáo sư Dương Thiên Thạch, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Lịch sử Cận đại thuộc Viện KHXH Trung Quốc (Bắc Kinh), từng sang Mỹ nhiều lần để đọc Nhật ký, nói: Bộ nhật ký này dài tới hơn 50 năm, giúp mọi người hiểu thế giới nội tâm của Tưởng và nhiều bí ẩn lịch sử chưa ai biết, có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cận đại và hiện đại, ai không đọc sẽ bị thiệt thòi rất nhiều.

Vì không ai có thể chép tay hết Nhật ký nên dư luận mong muốn bộ tư liệu này được chỉnh lý và xuất bản phát hành. Viện Hoover và các hậu duệ họ Tưởng đã đồng ý với yêu cầu đó. Vả lại họ thấy việc chỉ công khai từng phần Nhật ký đã gây ra rắc rối. Những người đọc Nhật ký chỉ chép được một phần, có khi chép sai, sau đó họ viết báo, viết sách đưa ra những tư liệu sai và quan điểm sai, gây rối dư luận. Việc xuất bản toàn bộ  Nhật ký sẽ giúp mọi người có dịp tự tìm hiểu về Tưởng Giới Thạch.

Năm 2010, Viện Nghiên cứu Trung ương (Academia Sinica, cơ quan học thuật cao nhất Đài Loan, tương đương Viện hàn lâm Khoa học) được Tưởng Phương Trí Di ủy quyền đã in 55 tập Nhật ký Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó việc xuất bản phải hoãn lại vì có hậu duệ họ Tưởng khiếu nại ra tòa vấn đề ai được giữ bản quyền bộ nhật ký này.

Thực ra từ lâu một số người đã xuất bản sách viết về Nhật ký Tưởng Giới Thạch, nhưng các tác giả đó đều chỉ mới đọc một phần Nhật ký, vì thế họ không thể đánh giá toàn diện và chính xác về Tưởng Giới Thạch. Bởi vậy công luận vẫn đang mong đợi Nhật ký sẽ sớm được xuất bản, phát hành.

Một phiên bản bài viết đã được đăng trên Văn hóa Nghệ An số 356 (10/1/2018).

Nguyễn Hải Hoành

—————

[1] 蔣介石 (1887-1975), tên phiên âm theo kiểu Đài Loan là Chiang Kaishek

[2] 蔣經國 Chiang Ching-kuo (1910-1988), Tổng thống Đài Loan 1975-1988, từng học 12 năm ở Liên Xô (1925-1937), lấy vợ người Nga.

[3] 蔣方智怡 Chiang Fang Chi-yi, sinh 1949, họ Phương, sau khi làm dâu nhà họ Tưởng mới lấy thêm họ nhà chồng.

[4] Thể hiện ở phong trào “Khứ Tưởng”.

[5] Tức Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, Trần Quả Phu-Trần Lập Phu.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lại điểm 2


Lại điểm 2 (Опять двойка) là một bức tranh nổi tiếng của họa sĩ Soviet Fyodor Reshetnikov (Фёдор Павлович Решетников), vẽ năm 1952.

Đây là bức thứ hai, trong bộ ba tác phẩm họa sĩ vẽ về đề tài thiếu nhi.

Bức tranh mô tả tâm trạng rầu rĩ của một cậu bé từ trường về, lại bị thêm một điểm 2. Tâm trạng của mẹ, chị, rồi cậu em, và đặc biệt là chú chó được diễn tả rất tài tình.

Về bức tranh này, nhà giáo dục – tâm lý, viện sĩ Viện Hàn lâm Giáo dục Liên Xô Shalva Amonashvili (sinh năm 1931) bình luận :

Bức tranh này không phải được vẽ cho đối tượng trẻ con. Nó dành cho người lớn. Để những người lớn thấy rằng, không được đối xử với trẻ con như vậy. Mà cần phải ứng xử, đón nhận như cách con chó với cậu bé.

Đối với chú chó, thì thế nào cũng được, cậu bé về nhà với cái gì. Với điểm 2 ư, cậu ấy vẫn là người bạn. Với điểm 5 ư, vẫn là người bạn. Không nên nhìn nhận đứa trẻ qua điểm số. Điểm số-cũng chỉ là điểm số mà thôi. Có thể đứa con điểm 2 của bạn ngày mai sau sẽ làm thay đổi cả thế giới. Đứa con điểm 3 của bạn sẽ thành nghị sĩ, hay là bộ trưởng, hoặc là một bác sĩ giỏi. Không phải điểm số quyết định, mà là cách cư xử của chúng ta với con mình ra sao.

Mình dịch xong mà cũng ngẩn người ra. Vì mình đã có lần choảng con mình vì điểm kém, dù biết rằng như thế thật không nên (Nói nhỏ chứ bố nó hồi đi học vẫn bị điểm kém liên tục). 😀

Phan Việt Hùng

Categories: ♥♥ Mỹ thuật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

奧古斯都神的功業記


【中译者的话】

公元一世纪罗马传纪作家苏维托尼乌斯在其《神圣的奥古斯都传》中提到奥古斯都的遗嘱。他说遗嘱写在两本册子上,另外有三卷密封的文书,其中有一卷是奥古斯都亲自撰写的他自己一生的成就,他叮嘱把这份文卷的全文铭刻在铜牌上立于他陵寝的入口处作为纪念【苏维托尼乌斯《神圣奥古斯都传》CI.4】。后来帝国境内其他地方的许多神殿大概也纷纷抄刻了这一自传的全文。但这些铭文绝大部分都随着建筑物的毁灭而湮没无存了。公元1555年,学者在小亚的安齐拉城(现代土耳其的安卡拉)的一座罗马女神和奥古斯都古庙中发现了这一铭文的拉丁语原文和希腊语译文。铭文几乎全部完好保存。(后来在小亚俾泰尼亚的阿波罗尼亚和安条克也发现一部分)。这之后,欧洲史学界对这一重要发现作了大量的抄录、校订、考证、翻译和评论解释等工作,使这一铭文成为一切古代铭文中最卓著的一个。蒙森曾誉之为“拉丁铭文的女皇”。这一铭文因其发现地点而以“安齐拉纪念铭文”(Monumentum Ancyranum)一名闻名于世。

奥古斯都这一自传铭文共35段。全文概括了他自己一生的经历和成就,大致分三部分:一、关于他历任官职和所获得的荣誉(1-14段);二、他用自己的资财为罗马和公众举办的事业(15-24段);三、他在战时和平时所完成的业绩(25-35段)。这一自传是按罗马历来纪念名人一生成就的传统写法写成的,与古代东方皇帝纪功碑之类铭文相似,是政治性文献,不是历史年表。但它是研究奥古斯都时代有价值的史料。

奥古斯都尽管自称还政于民,恢复共和政体,但从这篇自述看,他毫不谦逊,完全以大权在握,大功告成的君主的口气炫耀并历数自己的功绩和“德行”。因坦率无虚饰,所以文字简洁明了。由此亦可见作者的绝对无上地位。

安齐拉铭文不仅是研究奥古斯都的重要第一手资料,在古铭文学、语言学和拉丁文学等方面也都很有价值。

[下面所译铭文的简短前言和本文均选自N.刘易斯和M.来因霍德主编《罗马文明》第二卷,英译本,第 9-19页。

拉丁原文载于《拉丁铭文集》(CIL)第三卷,第769一799页,柏林]

在我十九岁时,我主动用自己的财产组织了一支军队并利用它使处于一小撮人【指马可·安东尼及其党人。此指B.C.44-43年间屋大维与元老院合作反对安东尼事】暴政压迫下的共和国恢复了自由。为此功绩,元老院于盖约·蓬萨和奥拉斯·赫喜阿斯为执政官时【B.C.43年】通过表扬法令使我成为元老院的一名成员,同时授我以等同于执政官的发言权,并授予我绝对统治权。元老院还任命我为代大法官,并以此身份与两执政官一起照管国事,务使国家不受伤害。同一年当两执政官在战争中阵亡后,人民选我为执政官,我成为处理共和国大事的三头之一【后三头】。

我依照法律程序流放了刺杀我父亲的人,使他们的罪行得到惩罚。这之后,当他们发动战争反对共和国时,我在战场上两次克服了他们【指B.C.42年的两次菲利比战役】。

我在世界各地的陆地和海上进行了对内对外多次战争。作为胜利者,我宽恕所有乞求原谅的公民。对于外邦人,凡可赦免而无害于安全者,我都宁愿赦免而不消灭他们。向我宣誓效忠的罗马公民兵约有五十万人:其中三十余万人在服役期满后,我送他们到殖民地定居或送回原籍。对所有这些人,我都分予土地或赠予金钱作为他们服役的报酬。我俘获了六百艘战船,其中尚未计入小于三层桨的小型船只。

我曾两次举行小凯旋式,三次举行正式凯旋式【一次在B.C.40年与安东尼在布林的西议和之后,另一次在B.C.36年战胜绥克斯都·庞培之后。B.C.29年,他一次举行了对达尔马提亚,亚克兴和埃及胜利的三个凯旋式】,二十一次获得英帕拉多称号【给予奥古斯都的英帕拉多称号很多是由于他的副帅特使的胜利】。此后,元老院曾一再宣布为我举行凯旋式,我均拒绝了。每次战争,我在完成自己的誓言之后便把装饰权杖的月桂花环奉还于卡庇托尔神殿中【共和国惯例,凯旋后的将军把权杖桂环存入卡庇托尔神殿以示完成出发时的誓言】。为我及由我指挥的副手们在海上或陆上所取得的胜利,元老院曾五十五次向不朽的诸神举行感恩献礼。按元老院的命令举行感恩礼的日子共达八百九十天。在我历次的凯旋式上,曾有九个国王或王子走在我的战车前。到我写本文件时为止,我已任执政官十三次,正第三十七次担任保民官【A.D.14年】。

当马尔库斯·马赛拉斯和琉喜阿斯·阿伦提阿斯任执政官期间【B.C.22年】,元老院和人民授予我的独裁权,无论是我在场或我不在场时宣布者,我均谢绝未予接受,在粮食极端缺乏的时期,我承担起粮食供应总监的责任。我执行此职数日之后,便通过使用自己的财力和人力购进粮食,解除了全体公民的饥饿危险和忧虑【此事标志罗马皇帝承当“供粮总监”(Cura annonae)之始。此后这一职责一直由皇家行政部承担】。当时还授予我终身的执政官职权,我拒未接受。

在马尔库斯·维尼西阿斯和昆图斯·琉克利喜阿斯任执政官期间【B.C.19】,又在巴布利阿斯·林都拉斯和格涅阿斯·林都拉斯任执政官期间【B.C.18】,第三次在鲍鲁斯·费比阿斯·马克西穆斯和昆图斯·图贝罗为执政官期间【B.C.11】,罗马元老院和人民一致同意推举我为独一的,拥有最高权力的法律和道德监察【实际上这是给奥古斯都以永久独裁权,然而是在一种新的伪装之下】。但我拒不接受给我加以任何违背祖宗传统的权力。因此,元老院希望我当时采取的行动我都以保民官权使之付诸实施【可能指他的社会道德立法,最早开始于B.C.18年】。后一项权力,我五次自愿要求,并经元老院许可,与一同僚分担【两次与马尔库斯·阿格里巴,三次与提比略分担】。

我连续十年是处理共和国事务的三头之一。到我写此文件时为止,我已任元老院成员四十年。我还是大祭司长,占卜官,负责举行献牺牲仪式的十五人圣典团成员,指导宗教性宴会的七人圣宴团成员,阿瓦尔祭司团成员,火神会成员和交涉外交的典礼官之一【所列七种职位均属宗教性官职。其中前四种为罗马国家宗教重要教职。奥古斯都以后诸帝均亲自担任此四种教职首领。阿瓦尔祭司团为古农业神祭司团,共设祭司12人】。

在我第五任执政官期间,我遵人民和元老院之命,增加了贵族人数。我三次重订元老院人选名单【B.C. 29,19,11年】。在我第六任执政官期间【B.C.28年】,我以马尔库斯·阿格里巴为同僚进行了一次人口财产调查。我举行了四十二年来没举行过的卢斯特鲁姆仪式。【传说罗马第六王塞维乌斯·图里乌斯最早举行人口财产调查。完成之后,向马尔斯神供献三牲。净化有渎神明之处,这种仪式称为卢斯特鲁姆 Lustrum】这次人口调查所记录的罗马公民人数为四百零六万三千人。后来在盖约·孙索里纳斯和盖约·阿西尼阿斯任执政官期间【B.C.8年】,我以执政官权为依据,独自举行了又一次人口调查。这次调查记录的罗马公民人数为四百二十三万三千人。第三次人口调查是在绥克斯都·庞培和塞克斯都·阿普来阿斯任执政官期间【A.D.14年】,我以执政官权为依据,以我儿提比略·凯撒为同僚而完成的。此次记录罗马公民四百九十三万七千人。依我所创始的新立法,我恢复了已遭吾一代人废弃的许多祖先旧传统;我本人也在许多方面为后代树立了效法的榜样。

元老院规定每个第五年由执政官和祭司为我的健康举行一次祝福宣誓。为履行誓言还愿,在我一生中时常举行庆祝赛会;有时由四个主要祭司团主持,有时由执政官主持。此外帝国全体公民也全体一致,或分别代表个人,或作为自治市集体的成员,不断到所有的神殿中为我的健康祷福。

遵元老院命令,我的名字被写入了萨利祭司团的赞美诗中。同时以立法规定我永远神圣不可侵犯,并终身拥有保民官权【奥古斯都在B.C.36年被授予保民官的不可侵犯权。B.C.30年又曾获得保民官权。但直到B.C.23年的宪法改革他才开始用保民官任期数计算他在位的年数。参见前第4段。】。人民将我父亲曾担任过的大祭司长职位授予我,但由于一个担任大祭司长的同僚还健在【指雷必达。此人于B.C.36年解除三头身份,保留大祭司长职。死于B.C.13年,次年奥古斯都遂接受大祭司长职】,我拒绝取代其位。几年之后,当普布里阿斯·萨尔皮喜阿斯和盖约·瓦勒吉阿斯为执政官时【B.C.12年】,原在国内动乱期间占居该职位之人去世,我始接受该职位。当时全意大利蜂聚了为数众多的公民来参加选我为大祭司的投票,这是罗马历史上前所未有的情况。

当昆图斯·琉克利喜阿斯和马尔库斯·维尼西阿斯为执政官时的某一天【B.C.19年】,我从叙利亚回罗马。为纪念我的归来,元老院在卡佩那门的“荣誉与美德”神殿之前,向“还乡之命运”女神奉献了一个祭坛,并以法令规定此后每年逢此周年纪念日【10月12日】,各祭司和维斯塔贞女均须向该祭坛奉献牺牲。这一日还因我而命名为奥古斯塔利亚。

这次由元老院下令,一部分行政官员和乎民保民官同执政官昆图斯·琉克利喜阿斯以及部分重要市民一起被派往坎佩尼亚去迎接我。这是到那时为止除我之外,未曾给过任何其他人的荣誉。在提比略·尼禄和巴布利阿斯·昆提利阿斯为执政官期间【B.C.13】,我成功地处理了西班牙和高卢行省的事务。从那里返回罗马时,元老院为了纪念我的归来,命令在马尔斯广场奠立一个庄严的和平祭坛,并以法令规定一切行政官员、祭司和维斯塔贞女每年周年日向之献祭。

我们的祖先决定任何时候,当整个罗马帝国在海上和陆上赢得胜利并取得了和平时,即关闭雅努斯-奎利努斯神庙【Quirinus=Mars】,这也是他们的愿望。据记载自建城以来到我出生之前,这个神庙只关闭过两次,而在我任元首期间,元老院曾三次命令关闭它。

由于我的尊荣,我的儿子盖约和琉喜阿斯·恺撒【两人是奥古斯都的外孙,系其女朱理亚与阿格里巴之子。奥古斯都于B.C.17年将两外孙过继为继承人。但两人均早逝,盖约死于A.D.4年,琉喜阿斯死于A.D.2年】–年轻时就被命运之神从我身边夺走–在年满十五岁时就被罗马元老院和人民指定为当选执政官,许可他们五年之后就任正式官职。元老院还决定他们从被引上广场讲坛之日起,就可以参加国事辩论。此外,罗马骑士团还赠他们以银盾和银矛,并尊他们为“青年领袖”。

遵照我父亲的遗嘱,我付给罗马平民每人三百塞斯特斯【罗马小银币名,此时等于1/4个狄纳里】;在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我以自己的名义从战利品中赠给每人四百塞斯特斯;在我第十任执政官时【B.C.24年】我从自己的财库中再次赠给每人四百塞斯特斯;在我第十一任执政官时【B.C.23年】,我十二次用我自己的钱购买粮食进行分配;在我第十二次任保民官时【B.C.11年】,我第三次发给每人四百塞斯特斯。我的这些赠款每次所泽及的人数从来不少于二十五万。在我第十八次掌保民官权和十二次任执政官时【B.C.5年】,我向三十二万城市平民每人赠送六十狄纳里【合240塞斯特斯】。在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我曾从战利品中发给在殖民地定居的士兵每人一千塞斯特斯。这笔赠款是在我举行凯旋式时发放的,接受者约十二万人,分在各殖民地。在我第十三次任执政官时【B.C.2年】,我给当时接受国家发放食粮的平民每人六十狄纳里【合240塞斯特斯】,获得者二十余万人。

在我第四次任执政官期间以及后来在马尔库斯·克拉苏和格涅阿斯·林都拉斯任执政官期间【B.C.30年和B.C.14年】,我把一些自治市的土地划分给了我的士兵,为此,我向各自治市偿还了银钱。我为意大利人的地产所付出的银钱总数约六亿塞斯特斯;为行省的土地付出约二亿六千方塞斯特斯。到我为止,所有在意大利成行省为士兵建立殖民地的人,我是第一个,也是唯一的一个采取这种偿还行动的人。后来在提比略·尼禄和格涅阿斯·皮索任执政官期间,同样在盖约·安提斯提阿斯和狄西摩斯·利略,在盖约·喀尔文那斯和琉喜阿斯·帕西恩那斯,以及在琉喜阿斯·林都拉斯和马尔库斯·美塞拉和在琉喜阿斯·卡尼尼阿斯和昆图斯·费布利西阿斯等为执政官的期间【B.C.7、6、4、3、2等年份】,我让服役期满的士兵回返自己原籍,用现款向他们发放了退伍金:为此,我花费了约四亿塞斯特斯。

我曾四次用自己的财产资助国库,共向国库管理人拨款一亿五千万塞斯特斯。在马尔库斯·雷必达和琉喜阿斯·阿伦提阿斯为执政官时【A.D.6年】我从我自己的财库拨款一亿七千万塞斯特斯作为兵士退伍基金。这一军事金库是在我的建议之下建立起来的,目的为服役满二十年或更多年的士兵提供退伍金。

从格涅阿斯·林都拉斯和巴布利阿斯·林都拉斯为执政官之年【B.C.18年】起,任何时候行省税收不能收齐,有时缺少十万人的贡赋,有时更多,我总从我自己的粮仓和财库代为补齐应纳之粮和钱之数。

我修建了下列各种建筑物,元老院会堂和与之相逢的卡尔西迪大殿;帕拉丁山上的阿波罗神庙及其柱廊;神圣朱理亚庙,牧神龛,弗拉米尼竞技场的柱廊(我同意称这桩廊为“屋大维亚柱廊”,这是早先在这同一地点修建一个柱廊者的姓名),还有大竞技场的观礼台,卡庇托尔山上的“打击者朱庇特”和“雷神朱庇特”神殿,奎利努斯神庙;阿芬丁山上的米涅尔娃、天后朱诺和“解放者朱庇特”诸神庙;位于圣路起点的拉瑞斯【教育神】神庙,维利亚山头的佩那戴斯【家神】神庙,以及帕拉丁山上的青年神庙和大母神庙。

我花费了巨款重修了卡庇托尔大庙和庞培剧场但未将我的名字铭刻于其上。我修复了因年久失修而多处损坏的水道的引水管道,我还把一条新的源泉引入称为马尔西亚的水道,从而使其水量增加一倍。我还修完了我父亲开始修建并已完成大部分的朱理亚广场和位于卡斯特尔神庙和萨图恩神庙之间的大会堂。后来这大会堂被火焚毁,我扩大了地基开始重新构筑并准备把我诸子的名字铭刻于其上。如果在我有生之年这一建筑不能完成,我嘱托我的继承人把这项工程完成。在我第六次任执政官时【B.C.28年】我遵照元老院的决议,在罗马城修复了八十二座神庙,当时待修的神庙没有一座被忽略。在我第七任执政官时【B.C.27年】,我重修了弗拉米尼大道,从罗马城直到阿里密努姆,也重修了除穆尔维桥和米努齐桥外所有的桥。

在我私人的地产上,我用战争得来的钱修建了复仇者马尔斯神庙和奥古斯都广场。在大半是从私有土地者手中购买来的土地上,我修建了一个剧场和与之相连的阿波罗神庙并在上面刻上我女婿马尔库斯·马赛拉斯的姓名。在卡庇托尔,我用战争得来的钱向神圣朱理亚庙、阿波罗神庙、维斯塔女神庙和复仇者马尔斯神庙奉献了大量的礼物,花费了约一亿塞斯特斯、在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我把为庆祝我凯旋而征集的加冕黄金三万五千磅归还给意大利诸自治市和殖民地民这之后,每当我再被授予英帕拉多称号时,我不再接受加冕黄金,尽管各自治市和殖民地仍以前此同样的热情决定贡献这种黄金【加冕黄金贡制源起希腊,罗马东征大将袭用之,初仅向东方省征收,帝国时遍及各省,为皇家财库的主要来源之一】。

我三次以我自己的名义,五次以我儿子或孙子的名义举办角斗表演,在这些表演中约有一万人参加战斗。我两次以我自己的名义,第三次以我孙儿的名义从世界各地聘请运动员为人民举行体育表演。我四次以自己的名义,二十三次代表其他官员举办各种赛会【指在剧场和竞技场的各种比赛】。在盖约·福尼阿斯和盖约·西拉那斯为执政官时【B.C.17年】,我作为十五人祭司团的团长,与我的同僚马尔库斯·阿格里巴一起,代表十五人祭司团,举办了百年大祭【ludi Saeclares,Secular Games,此处从《十二恺撒传》pp.66。A.D. 17年举行的大庆盛会遗留下一块巨大的石刻铭文,择细记载了此次大庆贺会的计划和要求,有奥古斯都的指示和元老院的法令以及大会主席团的命令等】。在我第十三次任执政官时,我第一次举办了马尔斯赛会【B.C.2年,军事竞赛】。此后执政官遵元老院决议和一条立法,在随后的年份,每年举行这种赛会。我二十六次以我自己的名义,或以我诸子诸孙的名义,在竞技场和圆形剧场举行追猎非洲野兽的表演,在此种表演中,约有三千五百头野兽被猎杀。

我在台伯河对岸,现在是凯撒园林的地方为人民举办了一次海战表演。为此,挖了一千八百英尺长,一千二百英尺宽的水域。在这次表演中有三十艘三列桨或二列浆的尖头战船和许多小船参加战斗。在这些船上,不算桨手约有三千名战士。

在我胜利之后,我把我的对手【指马可·安东尼】在战争中从亚洲省各城的神庙掠取供他私人使用的一切装饰物分别归还给该省各城的神庙。在罗马城中,有为我本人树立的或站立,或在马背、或在战车上的银质塑像约八十座,我把它们通通搬掉熔化,由此而得的钱财我用来以我自己的名义和为我树像者的名义向阿波罗神庙奉献金质礼品。

我镇压了海盗,给海上带来平静。在那次战争中【指对绥克斯都·庞培的海战,结束于B.C.36年】我把近三万名从其主人处逃跑并拿起武器反对国家的奴隶交还其原主去惩治。整个意大利于是自愿向我宣誓效忠,并要求我领导后来在亚克兴获胜的那次战争【指对马可·安东尼和克里奥帕特拉的战争。亚克兴战役在B.C. 31年】。高卢和西班牙诸省,阿非利加、西西里和撒丁等省也都举行了效忠宣誓。当时约有七百名元老站在我的旗帜下。在那之前或之后,直到我写此文件时为止,他们之中有八十三人得任执政官职,约一百七十人担任了祭司职。

我把罗马人民一切行省的边界都向外延伸了,在这些边界居住着臣服于帝国的各族人民【主要指西部各省。东方边界在奥古斯都时并不平静】。我使高卢和西班牙诸省恢复了和平,也使从加迪布斯(卡迪斯)到易北河口被海洋包围的广大日耳曼地区获得了和平。我使从近亚德利亚海地区起直到托斯卡海(第勒尼安海)为止的整个阿尔卑斯山恢复了和平,没有把不该进行的战争加给任何人民。我的舰队从莱茵河口向东在海洋上航行直达辛布累人的地界。以前没有任何罗马人从海上或陆上到过这个地方。辛布累人、卡里得斯人和塞姆诺内斯人以及该地的其他日耳曼人都派遣使节寻求与我和罗马人民建立友好关系【所指系提比略进军日耳曼尼亚直达易北河之役,对为A.D.5年】。在我的指挥和主持下,两支军队几乎同时开进了埃塞俄比亚和福地·阿拉伯;两个民族都有大批军人在战争中被歼,许多城镇被占领。在埃塞俄比亚,部队前进直达麦罗埃附近的那巴塔镇;在阿拉伯,部队进到萨白安地区的马里巴城【B.C.25-24年埃及总督埃利乌斯·伽卢斯进攻阿拉伯福地(也门)失败。B.C.21-22年,盖约·培特仑对埃塞俄比亚作惩罚性远征,得胜】。

我为罗马人民的帝国增加了埃及【在埃及女王克里奥帕特拉死后,B.C.30年】。当大亚美尼亚王阿尔塔克西亚斯被刺杀时,我本可以把它变成罗马的一个行省,但我宁愿按照祖先的榜样,通过当时我的继子提比略采取行动,把王国交给国王阿尔塔瓦斯德斯之子,老王提格拉尼斯之孙提格拉尼斯去治理。嗣后,此民族发生动乱和叛变,我儿盖约代我征服了他们,我将该王国交给米底之王,阿尔塔巴努斯之子阿里奥巴尔扎尼斯去治理。该王死后又把王国转给其子阿尔塔瓦斯德斯。后者被杀之后,我又派亚美尼亚王室子孙提格拉尼斯去治理该王国【奥古斯都继续采用共和时代已使用的在边疆建立小附属王国的政策。因为让土著酋王去治理边境小国比派罗马总督更为方便,也省力。这些小王国后来多并入罗马帝国。】。我收复了亚德利亚海以东一切行省以及当时大半在众小王酋掌握中的昔兰尼加行省以及前此收复的曾于奴隶战争中被占领的西西里和撒丁【可能指塞克斯都·庞培的占领】。

我在阿非利加、西西里、马其顿、两个西班牙省、亚该亚、亚细亚、叙利亚、那旁-高卢和彼西底亚【在小亚细亚半岛西南】建立了士兵殖民地。此外,我还在意大利建立了二十八个殖民地。在我生前这些地方已发展成著名而且人口繁茂的地方。

在西班牙、高卢和达尔马提亚等地战胜了敌人之后,我收复了以前其他将军失去的许多军旗。我迫使帕提亚人把他们以前从三个罗马军团夺去的战利品和军旗送还给我,并使他们不得不千方百计寻求与罗马人民建立友好关系【这些军期是克拉苏于B.C.53年对帕提亚的卡累战役中,和马可·安东尼在B.C.40年和36年对帕提亚用兵失败时丧失的。奥古斯都通过外交协商收回了军旗,挽回罗马人民的体面】。

在我成为元首之前,罗马人民军队从未进入过潘诺尼亚诸部落之地域;我通过我的继子提比略·尼禄将该诸部落征服并将之并入罗马帝国;我还将伊里利亚的边界扩展到多瑙河边。在我主持下,一支越过多瑙河来到我们此岸的达契亚人军队被击溃并歼灭了。嗣后,我的军队越过多瑙河迫使彼岸的达契亚部落服从罗马人的命令。

印度国王的使臣常被派遣来觐见我,前此他们从未觐见过任何罗马将军。巴斯塔尼人【又称培契尼人,Peucini】和斯基泰人以及住在顿河两岸的萨尔马太人,还有阿尔巴尼人,伊伯利安人和米底人等的国王都派遣使者来寻求我们的友谊【所提诸民族均分布在黑海以北和以东,从喀尔巴阡山到高加索一带】。

向我投奔的各民族的国王有帕提亚王提里达特斯和稍后的弗拉提斯老王之子,弗拉提斯;米底王阿塔瓦斯德斯;阿狄亚贝尼王阿塔薛西斯;不列颠王杜母诺白劳努斯和汀科米乌斯,苏刚布里人之王迈洛以及马可曼尼-苏维比人的国王西吉美鲁斯【此根据其他资料补】。帕提亚王欧洛狄斯之子弗拉提斯将其诸子诸孙均送来意大利我处。这并非出于他在战争中被征服,而是他自愿以子孙为人质寻求与我国友好。在我任元首期间,许多前此未与我们交换使节和友好往来的外族人都体验到罗马人民的良好信誉。

帕提亚人和米底人派遣其首要人物为使节从我接受他们所要求的国王:帕提亚人所接走的是国王欧洛狄斯之孙,国王弗拉提斯之子沃诺尼斯;米底人接走的是国王阿里奥巴尔扎尼斯之孙,国王阿塔瓦斯德斯之子阿里奥巴尔扎尼斯。

在我结束内战之后,经全国普遍拥护,我掌握了最高权力。在我第六任和第七任执政官期间,我将国家从我手中移交给罗马元老院和人民。因我的优行,元老院宣布授我以“奥古斯都”尊号,公开在我住宅的门柱上装饰了月桂枝叶,大门口钉上了市民花环;并且在朱理亚元老院会堂放置一面金盾,上面铭刻文字说明罗马元老院和人民因我勇敢、仁慈、公正和虔诚而授予我这种尊荣。从此,我的威望超过了一切人,但我在每一种职位上都不比我的同僚握有更多的权力。此处按照DY先生的建议修改。

当我第十三次任执政官时【B.C.2年】,元老院、骑士阶级以及全体罗马人民给我加上了“祖国之父”的尊号,并决定将此尊号铭刻于我住宅的前厅和朱理亚元老院会堂,也铭刻在元老院为给我以荣誉而树立于奥古斯都广场的战车的基座上。写此文件时,我年七十六岁。

李雅書根據英譯轉譯為中文

根據商務印書館《世界歷史資料叢刊》掃描,腳註改為隨文註釋

以下譯文按照拉丁文、英文譯文、中文譯文次序排列

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đã đến lúc cho sự lên ngôi của văn hóa và tri thức


Văn hóa là hoạt động của tư tưởng, và sự thụ nhận cái đẹp và tình cảm con người. Nó không liên quan gì đến việc nắm bắt những mảnh thông tin rời rạc. Một người chỉ đơn thuần có nhiều thông tin là kẻ lắm chuyện vô dụng nhất trên đất của Thượng Đế. Điều mà chúng ta nên hướng đến là tạo ra những người vừa có văn hóa, vừa có tri thức chuyên môn trong chiều hướng đặc biệt nào đó. Tri thức chuyên môn của họ sẽ mang lại cho họ nền tảng để xuất phát, và văn hóa của họ sẽ dẫn dắt họ vào sâu thẳm như triết học và thăng hoa như nghệ thuật” – Trích sách Những mục tiêu của giáo dục và các tiểu luận khác – Alfred North Whitehead (Hoàng Phú Phương, Tiết Hùng Thái, Hà Dương Tường dịch).

Đã từ lâu ở Việt Nam, hệ thống giáo dục và truyền thông xã hội không hề hướng tới việc tạo ra những người có văn hóa và cũng không hề tạo được những người có tri thức chuyên môn. Lối nói “thừa thầy thiếu thợ” là một biện minh xảo trá, bởi thực trạng ở Việt Nam đó là vừa thiếu thầy vừa thiếu thợ.

Thống trị mọi lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay chỉ có những kẻ gặp thời. Chợt nhớ tới lời than của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút : “Kẻ gặp thời thì không có chí, mà kẻ có chí thì chẳng gặp thời”. Cái chí ở đây không nên hiểu hạn hẹp là cái chí của kẻ theo đuổi thành đạt. Chí ở đây là chí muốn tạo một cuộc thay đổi để đưa cộng đồng hướng tới lối sống đẹp hơn, sâu sắc hơn. Đó là cái chí của sự hướng thượng mà chỉ những người có tri thức và có văn hóa mới hiểu được và mới dám dấn thân.

Nhiều cuộc cải cách giáo dục đã diễn ra, nhiều cuộc thanh trừng chống tham nhũng được phát động, nhiều cuộc biểu tình được tổ chức, nhiều xu hướng kinh tế mới được đề xướng… Tất cả chỉ là phần ngọn của vấn đề. Chừng nào người ta chưa biết trân trọng văn hóa và tri thức, chừng ấy nước Việt Nam còn lụn bại. Nhìn trong lịch sử Việt Nam, không ít thời những thế lực thiếu văn hóa và tri thức giữ được địa vị cao và hậu quả là một sự tàn phá, suy đồi kéo dài. Không chỉ ở dưới thời Xã hội chủ nghĩa, mà còn cả cuối thời Lê-Trịnh, cái nạn đám đông tàn phá, sĩ phu dùng lời lẽ thao túng các thế lực, kẻ làm quan cậy quyền cậy thế tham nhũng và cướp bóc… đã rất phổ biến. Những người có tri thức, có văn hóa lui về ở ẩn, để giữ sự trong sạch của mình và cũng thể hiện cho sự bất lực trước thời cuộc.

Hiện trạng ngày nay là sự giao tranh giữa xu hướng trọng văn hóa, tri thức với xu hướng trọng tiền bạc, xu hướng trọng quyền lực đám đông. Đây cũng là tình trạng đã gặp phải ở thời 30-45 của thế kỷ 20. Hậu quả là xu hướng quyền lực đám đông đã thắng, sau đó là xu hướng trọng tiền bạc chiếm ưu thế sau những năm 90. Xu hướng trọng văn hóa, tri thức trượt dài trong thất bại. Cứ mỗi lần cơ hội đến, các trí thức có tâm và có tài nhen nhóm làm điều gì đó thay đổi cho đất nước thì lại bị hai xu hướng kia đè nén, thậm chí giả mạo. Giờ đây, xu hướng trọng tiền bạc và xu hướng trọng quyền lực đám đông cũng tạo ra đội ngũ học giả của riêng họ để làm dư luận dẫn dắt quần chúng. Những học giả này dẫm đạp lên văn hóa và tri thức đích thực, thay thế bằng các sản phẩm kém chất lượng hơn.

Bây giờ, những người có tri thức và văn hóa sẽ phải làm sao? Có nên quay mặt để giữ sự trong sạch cho riêng mình? Tôi vẫn luôn tin cơ hội không tự nhiên đến, cơ hội là do mình nỗ lực nhặt nhạnh, chắt chiu từng ngày. Ở thời Trung Cổ, khi đa phần dân chúng mù chữ, nhiều tri thức bị coi là quỷ dữ, vẫn có những người bất chấp nguy hiểm, liều mạng để gìn giữ, sao lưu, thậm chí thuyết giảng với các quý tộc để mong mỏi có một ngày thay đổi. Nhờ vậy, phương Tây có một kỷ nguyên Phục Hưng rực rỡ mà chúng ta đến nay vẫn được thừa hưởng một phần thành quả.

Vậy đấy, tôi không tin xu hướng đám đông và xu hướng trọng tiền bạc có thể tồn tại được lâu. Bởi chúng chỉ tàn phá, và khi chúng tàn phá đến cực điểm, sẽ là lúc cần xây dựng những nền tảng mới. Lúc ấy, tri thức và văn hóa sẽ trở thành vị Chúa cứu rỗi con người.

Hà Thủy Nguyên

Categories: ☺☺ Thời đàm, ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

AVE BRVTVS


Triều Dương : Nghe ngu chưa ? Thằng Dũng đã phế, thằng Lộc còn ngu hơn. Tư duy kiểu này mà đòi viết sử.

Cuốn sách mình dự định thực hiện trong năm sau sẽ có HAI nhân vật chính là ông Nguyễn Huệ và ông Nguyễn Ánh. Tuy nhiên, nó sẽ xoay quanh nhiều vấn đề khác liên quan tới lịch sử Việt Nam và thế giới.

Ví dụ mình sẽ kể do đâu các nhà truyền giáo lại đến Việt Nam, công việc của họ là gì, các công ty Đông Ấn là thế nào, trong chương viết về kế hoạch kinh doanh của chúa Nguyễn. Vì địa bàn của hai người này rất rộng, nên sẽ móc nối với nhiều địa điểm trong quá khứ như cung vua Lê, phủ chúa Trịnh, đất Lam Sơn, vv. Đối tượng của mình là những ai chưa biết gì về lịch sử nên mình sẽ cho các bạn nhiều thông tin thú vị và cố gắng diễn giải dễ đọc theo lối kể chuyện, kèm theo hình ảnh.

Hiện tại mình đang sưu tầm tài liệu và đi thực tế để đầu năm sau viết. Trong tủ sách cũng góp được “Gia Định thành thông chí”, “Tây Sơn Uprising”, “Xứ Đàng Trong, Lịch sử Kinh tế – Xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, “Giả vương nhập cận”, “Trường Luỹ Quảng Ngãi”,… Quý anh chị em nào có lòng hỗ trợ tài chính, có thể gửi qua tài khoản này, mình xin cám ơn:

Phạm Vĩnh Lộc

Cuốn sách dự kiến sẽ có tên là “Vua Rồng” (Dragon Emperors), do ông Nguyễn Huệ có biệt danh Long Nhương và sử dụng Long Đao, ông Nguyễn Ánh có hiệu Gia Long.

—-

Mục lục dự kiến (có thể thay đổi)

⚔️I- Phân tranh:

1- Triều đình phương Nam, triều đình phương Bắc.

2- Rạch đôi sơn hà.

3- Tây Sơn dũng sĩ.

4- Ông Long Nhương và mặt trời bé nhỏ.

5- Những tháng ngày lưu lạc.

🔥II- Đại loạn:

1- Xứ chùa tháp.

2- Hoàng tử Cảnh đi Tây.

3- Attila phương Đông.

4- Ngày tàn của triều cũ.

5- Sinh nhật Càn Long.

6- Núi rừng Vạn Tượng.

🌈 III- Thống nhất:

1- Cuộc đào tẩu vĩ đại.

2- Kinh đô Gia Định.

3- Tam quốc phân tranh.

4- Biển lửa Thị Nại.

5- Từ giã cô thành.

6- Đôi cá nước cạn, họ Nguyễn về làng.

7- Trước biển Đông, nước Việt Nam một dải.

🔑IV- Phụ lục:

📜V- Nguồn tham khảo:

Kình Văn : Tự lột truồng bản thân luôn, suy cho cùng toàn lũ tự kỷ.

Triều Dương : Vẫn đạo đức giả.

Kình Văn : Cái chết oan nghiệt của Jong Hyun (SHinee) khiến bóng tối ‘trầm cảm’ bao phủ làng giải trí Việt suốt 7 ngày ~ Chắc chắn năm sau bên Hàn sẽ có chỉnh lý, tái cấu trúc nền giải trí đấy. Lúc đó thì các con giời sùng Hàn-Nhật sẽ rụng dần.

Triều Dương : Thế hệ Hàn Lưu là đỉnh rồi, dù sao vẫn đỡ hơn bọn sùng Nhật. Nhật bây giờ bệnh hoạn vl !

Kình Văn : Cho nên Drumpf Đại Đế thừa nhận Ierusalem lúc này là đúng thời, ít ra là làm kết thúc cái trò lấy lợi nhuận bù mâu thuẫn.

Triều Dương : Giờ cứ yên tâm, khi Mĩ tái định hình, các con giời sùng Mĩ cũng sẽ lung lay thôi. Hierosolyma là trò đạo đức giả, dm vốn đéo thằng nào yêu thương Palestine cả. Trò chính trị tân tự do ngu xuẩn của Mĩ khiến cho Trung Đông nát bét. Amen !

Kình Văn : Knn chỉ gây ảnh hưởng đến lợi ích của Đột Quyết và Ba Tư thôi, chớ trước giờ Saudi cần tró gì.

Triều Dương : Palestine kéo dài một thời gian nữa là sẽ phế.

Kình Văn : Theo hiến pháp là hai quốc gia, nhưng về mặt ngoại giao thì dân Palestine chỉ là một nhánh của nước Israel, đi đâu làm gì vẫn phải xin hộ chiếu Do Thái, không hơn gì Hongkong cả.

Triều Dương : Thiên Chúa và Vespasianus trù dập khiến Do Thái vong quốc lâu rồi, giờ chúng nó ngày càng mạnh. Số phận Palestine chẳng quan trọng, nó chẳng khác gì Việt Nam những năm 70-80 đi xin viện trợ như thằng hành khất, giờ nó muốn được công nhận nhưng nó không có trọng lượng. Sao phải đi công nhận một thằng bạo lực chuyên khủng bố ? Làm ăn vs Do Thái lợi hơn chứ !?

Kình Văn : Nãy ỉa tự dưng nhớ đến Brutus vĩ đại : AVE BRVTVS !

Triều Dương : Brutus nào ? Marcus Iunius Brutus kẻ đâm Caesar ?

Kình Văn : Brutus mũ 3 ấy, hê-hê.

Triều Dương : Dm… Thôi chúa giúp chú ỉa êm đít mát mông.

Kình Văn : Ave moi !

Triều Dương : Ỉa ngập nhà lũ lưu manh.

Kình Văn : Ừ ! Giờ tận hưởng Đêm Thánh Vô Cùng đã.

Triều Dương : Ờ… Cầu Augustus và Iesous đi.

Kình Văn : AVE BRVTVS ! 😜

Triều Dương : BRVTVS CHƯA ĐẺ ARTVRVS.

Kình Văn : Ờ-hớ, dark midnight blue. Hai bữa nay tôi đang bực vì cái tai bay vạ gió từ đám tân tự do, ông biết rồi đấy.

Triều Dương : PVBLIVS OVIDIVS NASO chứ đâu phải thằng ất ơ đéo biết văn bản. Nói chung, kệ mẹ chúng nó !

Kình Văn : Vẫn cái tư duy như thằng Thắng, dí phim con heo vào mặt bắt tôi coi, dù tôi đéo thèm.

Triều Dương : Thằng Lộc khá hơn đéo đâu, nó còn phải xin tiền bố thí khắp thiên hạ để mua Minh thực lục, Thanh thực lục, Đại Nam thực lục. Viết về thằng Huệ và Phước Ánh cũng bằng thừa. Dũng Phân và Lộc Lồn là hai thằng ngu đi viết sử, trong khi ở Việt Nam sử là thứ thậm dối trá. Nên ông đừng thấy lạ khi dân cổ điển, ngữ văn học ở Âu Mĩ chúng nó thạo sử còn sâu hơn dân chuyên sử, hiểu sử triết hơn bọn sừ-trét.

Categories: ☺☺ Thời đàm | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sao Việt Nam không có trứ tác đỉnh cao ?


Kình Văn :Dù trong văn học Nhật Bản hay Việt Nam, tác phẩm viết theo lối nào, thì cảm thức bi cảm rất quan trọng” ~ Vôn-như-lằn.

Triều Dương : Đứa nào viết ?

Kình Văn : Tụi Nhã Nam toàn trích bài từ Mương. (>”<) Rì-viu sách đấy. Vỗn lài !

Triều Dương : Yên tâm, mấy trang đó éo chấp, toàn bọn ngu lồn, viết văn như kẹc. Nên bảo sao NN ra mắt sách, trừ mấy cuốn nổi như Ngàn năm xú uế đi giới thiệu rầm rộ từ Bắc zô Nam, còn lại đều lên kệ và chỉ được thông báo hờ qua FB. Đám dịch giả có dám chường mặt ra đâu, cũng một phần chắc bị NN khinh vì cái thói ôm chân quỵ lụy, kế đến là biết mình ngu không nói được gì, không hiểu sâu, nên cứ âm thầm ra. Chứ học giới, sách ra tuy không mấy ai biết nhưng trong giới thì luôn hóng và đến dự. Có đứa dịch đến cả hơn chục quyển còn đéo được dòng nào trên mạng hay phỏng vấn cơ mà.

Kình Văn : Mà này…

Triều Dương : Hử ?

Kình Văn : Tụi Saudi có dòng văn chương đáng ngưỡng mộ phết đấy, sau này có thì giờ tụi mình sẽ điểm qua đám đó.

Triều Dương : Còn lâu, tỉ năm nữa.

Kình Văn : Mấy tác gia nổi danh tất nhiên là đều dạt sang Mễu cả.

Triều Dương : Không có văn bản không nói suông được.

Kình Văn : Vì sao Việt Nam không có tác phẩm văn học đỉnh cao ?

Triều Dương : Mje, Nhân Dân chửi đúng còn gì ? Đám kí giả ở đó cũng đéo xoàng đâu. Tại sao văn học Việt Nam không có tác phẩm đỉnh cao ?

Kình Văn : Ký giả Nhân Dân tôi gặp gồi mà, toàn sư tử làng báo. Văn học suy cho cùng là phải nói được hai điều tối thiểu : 1 là nỗi đau của con người, 2 là trào phúng chính con người, mấy thứ còn lại là râu ria thôi. Tôi quên chưa nói là cái link ND kia tôi lụm trong nhóm của tụi Trảm Phong Hội, chắc vẫn ý là muốn có cái gì đó để đem so với Nhật-Hàn-Hán, “của mình cũng ngon như của nó”.

Triều Dương : Hmm.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Âu phong Á vũ


Kình Văn : “Âu phong Á vũ” (歐風亞雨) tôi dịch là “European wind’n Asian rain” đúng không ?

Triều Dương : Nghĩa đen thì đúng, nhưng “phong” ở đây không chỉ có nghĩa là “gió”. Ông biết còn gì ?!

Kình Văn : Nó là một khái niệm văn chương, trong thơ Phan Sào Nam.

Triều Dương : Uh ! “Phong” ở đây là phong khó, khí phong vị. Mà mai tôi đưa ông sách, cũng là để ông nghiên cứu cho biết thế nào là bố cục trình bày văn bản của Mẽo.

Kình Văn : Thì ý cả câu là thời đại Tây Đông hòa hợp, cùng phát triển như mưa gió.

Triều Dương : Nói chung, tôi chưa nghĩ ra. Mje, diễn Hán sang Anh luôn có độ vênh. Thế nên bọn Mĩ sắp dịch hết Sử kí mà địa tính danh chúng nó vẫn phải để chữ Hán bên cạnh, không thì phiên Latin có cứt mà hiểu.

Kình Văn : Ban đầu tôi dịch là “Wind from Europe’n Rain from Asia”. “Âu phong Á vũ” tương tự “Thời đại Jazz” – “Jazz era”.

Triều Dương : Thôi để sau, Wiki thì chẳng quan trọng. Mai tôi vs ông sẽ xem, để quyết, sẽ giữ những gì từ bản gốc. Mốc thời gian, bản đồ, gia phả Iulio-Claudia chắc chắn phải giữ. Tụi mình được quyền thử những ý tưởng điên rồ nhất.

Kình Văn : Ờ hớ hơ, mảnh đất chưa ai khai phá mà.

Triều Dương : Để ông thấy cái nhà đó rây mơ rễ má ntn. He-he… Nhìn là thấy Augustus cháu của bà chị Iulia quá xa, mje, nhận nuôi thằng cháu tởm vđ. Nhưng mình cũng lấy Cải Tử làm bài học. Đừng có đánh đu vs tân tự do hay chính trị, nhất là khi nó chẳng cho mình được lợi lộc gì.

Kình Văn : Làm Don Quixote thì nhận trái đắng là phải.

Triều Dương : Giờ hắn im re, có dám ho he gì đâu. Hãy ở vế trên, ông à. Như Augustus, không cần vênh nhưng khối kẻ khiếp sợ, uy vũ khắp thiên hạ.

Kình Văn : Cứ sống đúng tinh thần La Mã. Speculum Virginum

Triều Dương : Ra là mang tiếng giáo huấn. Địt, thôi quá tuổi rồi. Gửi Thắng bảo ngồi quay tay cùng Sa-đì : Xem phim con heo Filasṭīn, xem cảnh Do Thái nện gái Filasṭīn. Sỉ nhục luôn… ka-ka !

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngu si + Nhiệt tình = Phá hoại


Triều Dương : Thằng này cần thêm vài thang độc dược, bệnh nặng vl.

Kình Văn : Thì đã biểu, nhiều người không tự chẩn bệnh của mình nổi. Tụi kỹ thuật toàn tư duy tập đếm nên ngoài tiền ra đéo có thú gì.

Triều Dương : Uh… Nói chung, A Sềnh chưa ra đời chưa thấm được cái thú khi nghe chửi và được chửi tha nhân. Tôi với ông giờ coi truyện đó nhẹ không. Ai chả phải có giai đoạn đưa đầu ra chịu báng, cũng như bị đánh, bị vùi dập.

Kình Văn : Sinh ở đâu thì bản tính ở đó, ông ạ. Dân thành phố cứt mấy đều có cái lịch thiệp, chớ như bà chủ trọ của tôi vẫn chỉ là dân quê, vô phòng đéo thèm gõ cửa, đã thế cứ thò đầu vào dòm như thể trong đó có vàng vậy. Nên thành thực là, với đám quê mùa, 1 chứ 10 cuộc Văn Cách cũng đéo ăn thua. À, cho ông coi cái tin vui vui : Cầu thủ Leicester tức giận khi Shakespeare bị sa thải.

Triều Dương : Ờ, Shakespeare. Thế nên Marius, Sulla, và cả Octavianus, ba lần tắm máu La Mã cũng đáng thôi, giết bớt cho khỏi nuôi lũ cặn bã. Nên ông thấy, thường những đại đô thị đến lúc quá tải thì phải diệt bớt đám bần nông. Tư duy chỉ hình thức, có lồn biết thưởng văn, thính nhạc, vịnh thi, đối ẩm, thực mĩ vị.

Kình Văn : Dm, thành phần Wikipedia toàn bọn lông rận. Nông dân ấy, già rồi nên đầu óc còn nặng tư duy thời chiến. Tôi và ông có cái may là sinh trưởng thời bình, thậm chí rất thanh bình, nên sau này dù đại thế chiến xảy ra và hòa bình tái lập, thì tâm khảm mình vẫn bằng an và bắt kịp thời đại hơn đám sinh thời chiến.

Triều Dương : Tư duy thời chiến là lũ sẽ bị lịch sử cuốn trôi. Ông không thấy đám thanh niên sinh trưởng thời chiến đều không tái hòa nhập được à ? Mà dm, mấy thằng lợn già này là thứ mà xã hội khinh bỉ. Augustus từng học tập tại Hellas, hắn hiểu vai trò của văn hóa, văn chương, nên dù đắc thắng phe quý nhân thì hắn vẫn dốc lòng bảo trợ văn chương. Không xã hội nào phát triển nổi nếu lãnh tụ là những thằng võ biền chỉ biết dùng nắm đấm.

Kình Văn : Cho nên mấy ông trùm như Drumpf Đại Đế chỉ hái rau bán cho lũ tham tiền thôi, còn gốc cứ để đấy tự xơi.

Triều Dương : Thực ra cũng đúng thôi. Cái đéo gì cũng đi truyền bá tùm lum thì bị qua mặt có ngày, mà không thì cũng thành cứt đái cho thiên hạ rỉa. Con Kim Như chưa ngộ được điều đó.

Kình Văn : Nó chưa giác ngộ nhưng ít ra là biết câm mồm. “Ngu si + Nhiệt tình = Phá hoại”, câu đó vẫn đúng.

Triều Dương : Sự bí ẩn rất cần thiết, nhất lại trong thời này, hở ra là ăn cắp : Đạo văn, đạo nhạc, đạo ý tưởng, đạo chích… Nên giờ các gia đình có nghề dù thô lậu đến mấy họ cũng càng phải cảnh giác, con dâu cũng phải qua thử thách vật vã mới được dạy nghề.

Kình Văn : Bảo tàng Lịch sử khá khôn. Đa số ảnh là nhỏ và mờ, mà những điều đăng trên mạng toàn trống đồng, đảng điếc sặc mùi tuyên huấn. Đơn giản là, muốn học cái hay thì phải tự bỏ tiền ra mục sở thị.

Triều Dương : Ngay cả Louvre toàn bản sao cả, đồ tốt để chỗ khác. Muốn có tri thức phải bỏ công của ra mua, mà phải biết tiêu tiền có tư duy, đặt đúng chỗ thời may mới thấy được, chứ tìm mấy trung tâm hoặc đại học quốc tế thì nó bán cho toàn cứt. Cơ bản xã hội Việt Nam vận hành đúng kiểu nhai lại và kinh doanh đa cấp, từ một gốc sau đó ra nhiều dị bản rồi cứ thế lừa bịp lẫn nhau, mua đi bán lại sự ngu và cả cộng đồng chìm nghỉm trong mớ rác.

Kình Văn : Thì cái đó tất yếu thôi, nhưng thế mới sàng lọc ra tinh hoa và tinh anh từ đám đông.

Triều Dương : Đối với đám ngu thì tôi nghĩ, cho chúng nó chết. Nhưng cái khắm là cả bọn lắm tiền cũng bỏ vốn cho mấy thứ đó. Cái khôn ngoan của ông Nguyễn Văn Khỏa là trích nguồn vừa phải, một phần vì có trích đám đông cũng đéo đủ trình tham khảo, phần nữa là có thế mình mới phải chịu thử thách để khảo cứu từ cái hạn chế. Gì cũng đòi dễ kiếm, miễn phí thì chỉ có cứt ấy. Còn Trần Quang Đức thì lừa một cách lưu manh trắng trợn, nên cuối cùng ông thấy, hắn vẫn chẳng có số má gì trong học giới, nhất là đám Hán Nôm, văn chương.

Categories: ❀❀ Bác vật chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đá mòn kia vẫn ghi


Triều Dương : À mà, quân chủ Á Đông hay có trò dựng trụ tạc bia ghi công trạng chiến tích đúng không ?

Kình Văn : Tựu trung là thạch bi đồng trụ (石碑銅柱), chất liệu bền.

Triều Dương : Uh… Vì lăng mộ Augustus có tấm bia đồng ghi công trạng, nó không còn, nhưng trong ngôi đền nào đấy ở Tiểu Á còn bản sao nguyên vẹn nên người ta vẫn lưu được. Nhiều khi không nhất thiết cứ ở một chỗ mới bảo lưu được vốn cổ. Các ông hậu duệ Việt Nam Cộng hòa đem cũng không ít phim sách qua hải ngoại nhưng chẳng bảo tồn xiển dương được đéo gì.

Kình Văn : Giờ đống đó để làm tiền và mua chính trị thôi.

Triều Dương : Phim phò nhờ mấy studio quét lại phục chế chiếu cho đám già hoài niệm thôi. Hải ngoại ngoài Trần Anh Hùng có ai sau ’75 làm được gì ra hồn đâu. Với lại, Sàigòn triệt tiêu cái tinh thần quốc gia quan trọng, chứ đống văn hóa phẩm cộng sản cũng đâu ngu và đốt phá bằng hết. Trong mấy kho quân đội quản lí có giời biết cổ vật di vật gì đang lưu trữ.

Kình Văn : Văn vật mất mát không nhiều đâu. Tinh hoa Việt Nam Cộng hòa thực ra cũng không cao lắm, nên mấy thứ không nên cho đám đông chắc chắn chỉ là dữ liệu quân sự – chính trị thôi, còn văn hóa phẩm thì thiếu gì nơi còn phiên bản. Mà với đám đông, văn hóa phẩm mới cần chớ.

Triều Dương : Uh… Trung thế kỉ với đám Việt Nam gần như vô giá trị, cái ngu là ở đấy. Mà chắc ông cũng biết ngành văn học dân gian đúng không, tôi đéo hiểu văn học dân gian Việt Nam thì nghiên cứu cái gì nữa ~

Kình Văn : Đại để là mấy truyện và thơ khuyết danh đó. Gồm cả tục ngữ, ca dao ngắn…

Triều Dương : À-há ! Thơ Lí-Trần thì vẫn nặng tính Đường Thi, tôi đéo thích thơ Đường.

Kình Văn : Riêng Nguyễn Trãi và Nguyễn Du có hẳn chuyên đề, độc lập như một ngành.

Triều Dương : Hmm.

Categories: ❀❀ Bác vật chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: