Chuyện Minh Mệnh đế định cờ hiệu cho Ngũ quân Bắc Thành


Sách Đại Nam thực lục (大南實錄), phần Chính biên (正編), Đệ nhị kỷ (第二纪), các quyển LXVII (卷六十七) và XCIV (卷九十四), có đoạn chép :

Anciennes barques royales Annamites

[1830] Canh Dần, Minh Mệnh năm thứ 11, Thanh Đạo Quang năm thứ 10. Mùa hạ, tháng Năm.

Chế cấp cờ hiệu cho Ngũ quân ở Bắc Thành.

– Trung quân mười cơ Chấn định, Tiền quân mười cơ Kính tiệp, Tả quân mười cơ Kiên nhuệ, Hữu quân mười cơ Hùng dũng, Hậu quân mười cơ Uy thắng, cấp cho mỗi cơ một lá cờ vuông, 40 lá cờ đuôi nheo.

– Cờ vuông làm bằng trừu Nam hoa nhỏ, dài 2 thước 3 tấc 5 phân, ngang 1 thước 9 tấc, mặt cờ đính hiệu quân ; cờ đuôi nheo làm bằng lụa, dài 2 thước 1 tấc 5 phân, bề chéo dài 2 thước 6 tấc, trên ngang 1 thước 4 tấc.

– Mặt cờ Trung quân đều dùng sắc vàng tươi. Tiền quân đều dùng sắc đại hồng. Tả quân đều dùng sắc quan lục, Hữu quân đều dùng sắc bạch tuyết. Hậu quân đều dùng sắc lão lam. Duy đường viền răng cưa dùng sắc vàng thẫm.

– Các cơ Trung kính, Trung tiệp, Trung kiên, Trung nhuệ, Trung hùng, Trung dũng, Trung uy, Trung thắng dùng sắc vàng tươi, dải cờ đều nửa trên sắc vàng thẫm, nửa dưới sắc vàng nhạt.

– Cơ Tiền kính, Tiền tiệp, đường viền răng cưa dùng sắc đỏ thẫm, các cơ Tiền chấn, Tiền định, Tiền nhuệ, Tiền hùng, Tiền kiên, Tiền dũng, Tiền uy, Tiền thắng, dùng sắc đại hồng, dải cờ đều nửa trên sắc đỏ thẫm, nửa dưới sắc đỏ nhạt.

– Cơ Tả kiên, Tả chấn, Tả định, Tả kính, Tả tiệp, Tả hùng, Tả dũng, Tả uy, Tả thắng dùng sắc quan lục, dải cờ đều nửa trên sắc xanh thẫm nửa dưới sắc xanh nhạt ; cơ Hữu hùng, Hữu dũng đường viền răng cưa dùng sắc xanh da trời, dải cờ nửa trên xanh da trời, nửa dưới sắc đại hồng, lại mặt cờ chính giữa dùng thêm sắc đại hồng, cờ vuông, thì vuông 6 tấc, cờ đuôi nheo thì vuông 5 tấc ; các cơ Hữu chấn, Hữu định, Hữu kính, Hữu tiệp, Hữu kiên, Hữu nhuệ, Hữu uy, Hữu thắng, đường viền răng cưa dùng sắc tuyết trắng, dải cờ nửa trên tuyến trắng, nửa dưới xanh da trời ; cơ Hậu uy, Hậu thắng, đường viền răng cửa dùng sắc đen, dải cờ nửa trên sắc đen, nửa dưới sắc lão lam, các cơ Hậu chấn, Hậu định, Hậu kính, Hậu tiệp, Hậu kiên, Hậu nhuệ, Hậu hùng, Hậu dũng, đường viền răng cưa dùng sắc bảo lam, dải cờ nửa trên sắc bảo lam, nửa dưới sắc lão lam.

… … …

[1833] Quý Tị, Minh Mệnh năm thứ 14, Thanh Đạo Quang năm thứ 13. Mùa hạ, tháng Năm.

Thự Tổng đốc Hải – Yên, Nguyễn Công Trứ, dâng sớ nói : “Theo lệ trước, mỗi đội ở các vệ, cơ đặt 4 Suất thập. Năm Minh Mệnh thứ 12 đã bàn định việc san bổ cơ binh Bắc Thành, hễ đội nào nguyên có Suất thập thực thụ hoặc thí sai khóa lệ rồi thì liệt vào hàng trên các binh lính, chứ không phải chia làm 4 thập ; nếu không có thì không được đặt thêm. Vậy thiết nghĩ : Xét mưu kế định việc đánh, liệu thế giặc, quyết đánh thắng, là do ông tướng. Khi ra quân kỳ, khi dùng chính binh dọc, ngang, biến hóa mà không rối loạn, đó là hình thức. Hình thức đó là kỳ xí. Cho nên mỗi thập phải có trưởng thập giữ cờ làm hiệu cho quân, để làm chừng mực cho khi chia, khi hợp, hoặc trước, hoặc sau, hoặc tả, hoặc hữu… cho nên hàng ngũ không rối loạn. Nếu trong một thập mà không có trưởng thập, không ai cai quản, thì khi thao diễn, khi đánh dẹp, tề chỉnh làm sao được ? Nay xin cho trong các cơ, nguyên có Suất thập thực thụ hoặc thí sai khóa lệ nếu có thiếu khuyết thì được chọn bổ mỗi thập một người trưởng, chuyên giữ kỳ xí nếu có ai trái quân luật, thì chỉ trách cứ vào thập trưởng. Lại nữa, từ trước đến nay, ở Bắc Kỳ, cái tệ dọa nạt bắt binh lính đóng góp đều ở Suất thập. Đó có lẽ vì dùng người cùng làng để cai quản lính cùng làng, ở quân ngũ thì là đội trưởng, ở làng là quan viên. Đối với những khoản phụ cấp theo lệ làng và những món chi dùng trong quân ngũ, chúng cứ tự ý làm cao lên hoặc hạ thấp xuống để bóc lột binh lính. Nay xin chọn người làng khác, đội khác để làm thì có thể bỏ được cái tệ ấy“. Vua giao sớ ấy xuống cho bộ Binh bàn xét.

Bộ Binh cho rằng : “Chủ chốt của việc dụng binh quý ở chọn tướng, tướng được người giỏi, thì huấn luyện có phương pháp, lính biết kỷ luật. Ra trận, đánh giặc, khi ngồi, khi làm, khi tiến, khi lui, ba quân đều như một người, không lo gì không tề chỉnh. Nay mỗi đội, đặt 1 suất đội, 2 đội trưởng, 2 ngoại ủy, như thế tin rằng đã đủ coi quản gìn giữ lẫn nhau rồi, chứ sao còn phải chia thập, đặt trưởng, chỉ câu nệ theo phép cổ làm gì ? Đến như trong một đội, có nhiều người cùng quê lệ thuộc vào, cũng là vì rằng lúc bình thường, họ đã là chỗ bà con, làng xóm với nhau ; khi có việc thì họ chống đỡ bảo vệ lẫn nhau lại càng đắc lực. Nếu có hạng quan võ hèn kém, sinh ra những tệ dọa nạt, bóc lột, thì nên nghiêm hặc trừng trị, thì tự có thể răn bảo được người khác. Nếu cứ phải dùng người làng khác, chưa chắc ngày sau đã hết được mối tệ hại, mà các cơ trong 5 quân ở Bắc Kỳ, cứ rút chỗ kia bổ vào chỗ này, kể có hàng hơn nghìn, mà sổ sách rối bời, ngay trước mắt cũng đã bộn lên không sao kể xiết ! Lời bàn của Công Trứ không thể làm được“. Vua cho là phải.

… … …

[1833] Quý Tị, Minh Mệnh năm thứ 14, Thanh Đạo Quang năm thứ 13. Mùa hạ, tháng Sáu.

Định rõ số lượng và màu sắc cờ hiệu cho các chiến thuyền, các quân cơ của năm tỉnh lớn ở Bắc Thành.

Thự Tổng đốc Hải – Yên, Nguyễn Công Trứ, tâu nói : “Cơ Chính võ và 2 cơ : Tả thủy, Hữu thủy thuộc tỉnh cùng các hạng thuyền Điện hải, Hải đạo, Ô, Lê, Sam bản do Nhà nước cấp đều chưa có cờ hiệu. Xin chi của kho chế cờ để cấp cho“.

Vua dụ bộ Binh rằng : “Quân đội có cờ, là để làm hiệu lệnh chỉ huy mà nghiêm chỉnh hàng ngũ. Đó là thứ rất cần dùng cho quân đội. Năm trước, đã từng chuẩn định : Ngũ quân Bắc Thành trước, mỗi cơ 1 lá cờ vuông, 40 lá cờ đuôi nheo. Sau đó chia đặt các tỉnh hạt, thì 5 quân ấy chia ra lệ thuộc vào 5 tỉnh lớn, số cờ hiệu đã cấp cũng đều mang theo. Nay, Nguyễn Công Trứ đem việc cờ hiệu của các quan quân chưa từng chế cấp, kêu xin cấp thêm. Nhân đó ta nghĩ : Các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây cũng có việc giống như vậy, theo lời bàn trước, mỗi cơ 40 cờ đuôi nheo, nay đổi định lại mỗi cơ 20 lá. Cơ Thiện võ Hà Nội, Thủy cơ Hà Nội, cơ Tráng uy, 3 cơ Trung, Tả, Hữu Nam Định, cơ Chính võ, 2 Thủy cơ tả, hữu Hải Dương, cơ Võ dũng Sơn Tây, cơ Cự uy Bắc Ninh, đều được chế cấp cho mỗi cơ 1 cờ vuông, 20 cờ đuôi nheo, rồi ở mặt cờ, góc, diềm cờ có viền các màu sắc để phân biệt (cơ Thiện võ Hà Nội, mặt cờ trong sắc vàng, ngoài biên, màu lam. Thủy cơ Hà Nội, mặt cờ trong vàng sẫm, ngoài vàng nhạt. Cơ Tráng uy Nam Định, mặt cờ trong hồng, ngoài lam. Cơ Trung thủy : Mặt cờ, vàng sẫm. Tả thủy : Trong xanh sẫm. Hữu hồng. Cơ Chính võ Hải Dương : Mặt cờ, trong xanh sẫm, ngoài lam. Cơ Tả thủy : Mặt cờ, trong xanh nhạt. Cơ Hữu thủy : Trong màu trắng, ngoài đều màu quan lục. Cơ Võ dũng Sơn Tây : Mặt cờ, trong sắc trắng, ngoài hồng. Cơ Cự uy Bắc Ninh : Mặt cờ, chính giữa dùng thêm một mảnh hồng, nếu cờ vuông, mảnh vuông 6 tấc, nếu cờ đuôi nheo, mảnh vuông 5 tấc, để cho khác với quân bộ). Kết hợp dùng trừu ta, vải, lụa cùng các cơ 5 quân cũng thước, tấc dài, rộng như nhau, do bộ vẽ mẫu đưa đến. Đến như các sắc thuyền hiệu đã có cờ Thủy cơ đủ để dùng rồi. Duy các thứ thuyền Điện hải, Hải đạo, chế cấp cho mỗi thuyền 1 cờ vuông (dài 3 thước 8 tấc, ngang 2 thước 5 phân. Thí dụ như Nam Định thì mặt cờ đen viết 2 chữ ‘Nam Định’. Các tỉnh khác cũng như thế. Tất cả đều dùng trừu, lụa, trong sắc vàng, ngoài sắc đại hồng). Khi có việc, phóng thuyền đi thì ở về phía lái thuyền kéo cờ để làm tín hiệu. Còn các thuyền Ô, Lê, Sam bản, cơ nào, vệ nào ngồi thì đem theo cờ của cơ hoặc vệ ấy“.

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: