Kiệu


Trong một bài phỏng vấn gần đây về y phục trên phim cổ trang, tôi đã nói rằng, có thể làm vừa đúng vừa đẹp, hay thậm chí chỉ cần làm cho đúng đã đủ đẹp rồi. Đồng thời cũng nói rằng, một bộ phim cổ trang hay đẹp, ngoài vấn đề phục trang còn phải đầu tư bối cảnh sinh hoạt, không gian văn hóa, phong tục, ngôn ngữ… Nếu cố gắng làm cho đúng nhất có thể, với những chứng lý rõ ràng, những cáo buộc giống phim Tàu sẽ không thể đứng vững. Tôi đơn cử việc ngồi kiệu của vua quan người Việt.

安南轎

Minh họa : 1. Nguyên văn đoạn chú thích [4] trích từ sách Lịch triều hiến chương loại chí và họa hình đám rước vua Lê của Samuel Baron ; 2. Kiệu rồng của vua nhà Nguyễn và kiệu bát cống thờ tại đình làng Quan Nhân (trước thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội và nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội).

Năm 1293, sứ thần nhà Nguyên là Trần Cương Trung mô tả vua nhà Trần ra vào cung cấm “ngồi loại kiệu đỏ, tường xung quanh màu son, tám người khiêng, rất hoa lệ[1]. Đây chính là loại kiệu bát cống (tám đòn, tám người khiêng) hiện vẫn còn thấy ở nhiều đình làng Bắc Bộ, dùng để thờ thần [2]. Vào thời Trần, kiệu bát cống đầu rồng là kiệu dành cho vua. Theo quy định năm 1254, hàng tông thất cho tới các quan ngũ phẩm đều được ngồi kiệu, trong đó : Kiệu của tông thất đầu phượng, sơn son ; kiệu của tướng quốc đầu vẹt, sơn đen ; kiệu của quan tam phẩm trở lên đầu mây ; kiệu của quan tứ, ngũ phẩm đầu bằng [3].

Đến thời Lê, Phan Huy Chú (潘輝注, 1782 – 1840) cho biết, vua chúa xuất cung chỉ dùng kiệu rồng vàng, kiệu rùa vàng. Các quan thì dùng kiệu thất cống (bảy đòn), võng tam cống (ba đòn). Đồng thời cho biết, vua chúa quen ngồi kiệu đã lâu, thấy thoải mái dễ chịu nên bỏ quy chế xe cộ không dùng [4].

ĐẶC BIỆT, Lý Tiên Căn (李仙根, 1621 – 1690), sứ thần nhà Thanh mô tả : ”Người sang thì dùng lưới làm võng, hai người khiêng. Bậc đại tôn quý thì ngồi kiệu giống cái xe, lên kiệu thì khoanh chân ngồi, hoặc tám người khiêng, hoặc bốn người khiêng. Buồn cười nhất là phu kiệu, phu cầm lọng cầm quạt của vua đều cởi trần cả, chỉ dùng một khổ vải xanh quấn quanh eo, từ bẹn bó lên đến rốn, dù trời lạnh cũng không mặc áo, ai nấy hình dong đều béo chắc, gọi là hảo hán[5]. Mô tả của sứ thần nhà Thanh hoàn toàn khớp với hình vẽ của thủy thủ người Hà Lan Samuel Baron, đến Đông Kinh vào năm 1672. Có thể thấy muộn nhất vào thời Lê, phu khiêng kiệu vua đều cởi trần đóng khố. Thói tục này hoàn toàn có thể truy lên thời Lý – Trần. Bởi lẽ chỉ đến thời Nguyễn, sau khi ”trừ bỏ hết thói tục hủ lậu của Bắc Hà[6] với các lệnh cấm y phục, trong đó có việc cấm đóng khố đối với nam giới Bắc Trung Bộ [7], thói tục đóng khố trong dân gian mới không còn phổ biến như trước.

Như vậy, nếu “làm đúng”, tái hiện đúng hoạt cảnh vua quan áo mão đường hoàng, vua ngồi trên kiệu bát cống với dàn phu kiệu cởi trần đóng khố, ai nấy đều nhuộm răng đen, đi chân đất… dù cho tầng lớp trí thức tinh anh vẫn viết văn thơ bằng chữ Hán, dù cho trang phục vay mượn nhiều quy chế từ cung đình Trung Hoa thì bối cảnh đó vẫn là bối cảnh Việt, văn hóa đó vẫn là văn hóa Việt.

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

Chú thích :

1. Sứ Giao tập (使交集).

2. Kiến văn tiểu lục (見聞小錄) cho biết, năm 1767 quy định lại đồ thờ cúng ở các đền, trong đó có kiệu bát cống. Thượng đẳng thần được dùng kiệu bát cống sơn son, khắc đầu rồng, thếp vàng.

3. Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書).

4. Lịch triều hiến chương loại chí (歷朝憲章類誌).

5. An Nam tạp ký (安南雜記).

6. Minh Mệnh chính yếu (明命政要).

7. Quốc sử di biên (國史遺編).

Trần Quang Đức

Advertisements
Categories: ❀❀ Bác vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: