Nữ sĩ miền Nam – Mấy gương mặt tiêu biểu


Nhân ngày mồng 8 tháng 3, nói về nữ sĩ. Ưu tiên cho nữ sĩ miền Nam vì văn học miền Nam bị coi là “con ghẻ” trong hệ thống giáo dục – truyền thông bây giờ.

Quiet moment (Nguyễn Phước)

1. Phạm Lam Anh (? – ?)

Con gái của quan Cai bạ Phạm Hữu Kính thời chúa Võ, người Quảng Nam. Tên thuở nhỏ là Khuê, tên chữ là Ngâm Si. Từ nhỏ đã hay thơ, được cha yêu chiều mời thầy về dạy học, tên là Nguyễn Dũng Hiệu, hiệu Phúc Am. Hai người từ việc thơ từ tặng nhau đến nhân lúc cha không ở nhà mà lén lút đi lại với nhau. Sau cha Lam Anh cũng gả bà cho Nguyễn Dũng Hiệu. Hai vợ chồng có tập “Chiến cổ Đường thi” rất nổi tiếng thời ấy.

VỊNH KHUẤT NGUYÊN

Trí nan tất toại thiên thu sự,
Ba bất toàn trầm nhất phiến trung.
Cô phẫn khí thành thiên khả vấn
Độc nhân tinh khứ quốc cơ không.

[khuyết ảnh]

2. Tam Khanh

Nổi tiếng nhất trong thời Nguyễn có lẽ là Tam Khanh công chúa, gồm 3 chị em con vua Minh Mạng được đặt biệt hiệu Trọng Khanh, Thúc Khanh, Quý Khanh.

Trọng Khanh công chúa, biệt hiệu Nguyệt Đình. Từ nhỏ đã thích ngâm vịnh, theo học nữ sử trong cung. Sau lấy chồng là Phạm Đăng Thuật, vợ chồng hạnh phúc nhưng chỉ sinh được 1 con gái mất sớm. Năm 1861, Pháp đánh Gia Định, Phạm Đăng Thuật chết ở Nam Kỳ. Công chúa Nguyệt Đình hàng chục năm không ra khỏi cửa. Không có con thừa tự, bà dựng từ đường riêng trước mộ chồng, táng chung với chồng. Thơ Trọng Khanh có tập Nguyệt Đình thi thảo, được Tuy Lý vương đề tựa “Phát ra ở tình nhưng dừng lại ở lễ, như Tái Trì, Hà Quảng trong Kinh Thi”.

Thúc Khanh công chúa, hiệu Mai Am, Nữ Chi, biệt hiệu Diệu Liên. Là người nổi tiếng nhất trong 3 chị em. Khi đến tuổi, Mai Am ra ngoài sống ở phủ của anh ruột Tùng Thiện vương, học ở Tôn học đường. Tùng Thiện vương thường hay mở thi xã, sau Mai Am cũng đứng ra tự mở Thỉnh Nguyệt đình là nơi công chúa chủ trì các đêm thơ, tụ họp nhiều danh sĩ kinh kỳ. Năm 24 tuổi Mai Am lấy chồng nhưng không hạnh phúc, có 1 người con trai nhưng cũng mất sớm. Năm 1885, 2 vợ chồng theo vua Hàm Nghi, chồng bà mất tích không tìm được xác. Mai Am có tập thơ Diệu Liên thi tập, được in ấn, tái bản nhiều lần và các danh sĩ đương thời đề tựa. Ngoài ra, Mai Am còn 15 bài thơ khóc con, 15 bài thơ khóc chồng khắc trên mộ gió của chồng bà.

Quý Khanh công chúa, hiệu Dưỡng Chi, biệt hiệu Thường Sơn, Huệ Phố. Lúc bé học ở trong cung, không những giỏi văn thơ mà còn giỏi cả âm nhạc, hay đem các khúc nhạc phủ dạy cho người khác, trong cung gọi là nữ sư. Sau này ra ở ngoài, Quý Khanh tự đặt bộ nữ nhạc, đàn sáo đầy nhà, anh em thường lại hội yến. Quý Khanh có 4 người con nhưng 3 người chết sớm, người con trai còn lại cũng bị Pháp tử hình vào năm 1885. Quý Khanh có Huệ Phố thi tập.

[khuyết ảnh]

3. Nguyễn Nhược Thị Bích (1830 – 1909)

Nguyễn Nhược Thị Bích hay còn gọi là Nguyễn Nhược Thị, tự Lang Hoàn. Bà là người Ninh Thuận, con gái của quan Bố chính Thanh Hóa. Từ nhỏ đã nổi tiếng thơ văn, sau được giới thiệu, cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư, để dạy học trong nội cung, rồi thành Tiệp dư của vua Tự Đức. Bà còn là người dạy học cho Đồng Khánh, nên trong cung gọi là Tiệp dư Phu tử, rồi thành Bí thư cho Thái hậu Từ Dụ, soạn thảo tất cả sắc chỉ của thái hậu đưa ra. Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là Hạnh thục ca.

[khuyết ảnh]

4. Cao Thị Ngọc Anh (1877 – 1970)

Cao Ngọc Anh, con gái của quan Thượng thư Cao Xuân Dục, người Nghệ An. Bà ở kinh thành thường hay vào cung xướng họa với các công chúa, tiểu thư, phi tần. Khi ở nhà, bà cũng được phép tham dự các cuộc xướng họa của các danh gia đến chơi với cha, nổi danh là tiểu thư hay chữ ở Huế. Bà có Khuê sầu thi thảo được con cháu tổng hợp xuất bản, ngoài ra còn có văn tế, câu đối, ca trù…

Bà Cao Thị Ngọc Anh

5. Sương Nguyệt Anh (1864 – 1921)

Sương Nguyệt Anh, con gái Nguyễn Đình Chiểu, người Bến Tre. Bà cùng chị là Nguyễn Thị Xuyến nổi tiếng hay chữ đương thời, được gọi là Nhị Kiều. Chồng mất sớm, chỉ có 1 con gái, bà đổi tên thành Sương Nguyệt Anh, sau này trở thành chủ bút báo nữ đầu tiên ở Việt Nam.

[khuyết ảnh]

6. Đạm Phương nữ sử (1881 – 1947)

Đạm Phương nữ sử, tự Quý Lương, biệt hiệu Đạm Phương, cháu gái vua Minh Mạng. Bà giỏi cả Hán văn lẫn tiếng Pháp, quốc ngữ, cầm kỳ thi họa. Năm 20 tuổi, Đạm Phương đã được mời vào cung dạy , được phong chức Nữ sử. Bà được coi như nữ tiểu thuyết gia hiện đại tiên phong ở Việt Nam, nhà báo, chủ bút, biên khảo, hội trưởng hội phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở Việt Nam. Bà có 3 con trai, 3 con gái. 3 người con trai bà đều chết vì chống Pháp.

Bà Đạm Phương nữ sử và cô út Nguyễn Khoa Diệu Vân

Trường An

Advertisements
Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: