Chép việc những năm Minh Mệnh (kỳ 5)


◆ Vầng, thế quái nào mà triều đại mở cửa thông thương nhiều nhất, buôn bán thịnh vượng nhất, lại trở thành triều đại “bế quan tỏa cảng” được vậy ?

◆ Minh Mệnh đặc biệt chú ý đến quân phòng, nhung phục của người Pháp, hỏi rất cặn kẽ và dựa theo Pháp chế ra một loại ngù đeo vai cho võ quan. Những quan viên này thường nói trộm sau lưng vua : “Chúng mình là sĩ quan của Pha-lang-sa !”. Cái triều đình này thiệt… hài khó tả. Mà thời này vua cũng đã áp dụng đủ thứ của Tây như huân chương (được gọi là “kỷ lục”) để vinh danh chiến công.

◆ Vua từng cùng thị thần bàn việc học, nói rằng : “Trẫm từ khi làm thái tử, sau khi vấn an được nhàn rỗi, không làm việc gì, chỉ chăm xem sách. Phàm những sử Hán Đường Tống Nguyên Minh, không bộ nào là không xem ; nhưng tính trẫm không nhớ lâu, nên khi trò truyện, nghĩ đến việc cũ nhà Nguyên nhà Minh, có khi nhớ việc mà quên tên người, trẫm hỏi các khanh, cũng không trả lời được, có lẽ chưa đọc chăng ?”. Quang lộc Tự khanh Phan Huy Thực tâu rằng : “Từ đời Lê trở lại, những người học khoa hoạn chỉ đọc sử Hán Đường Tống làm lối tắt thi cử”. Vua phán : “Từ Nguyên Minh cho đến Đại Thanh có đến sáu, bảy trăm năm. Cứ nay mà xem thì từ Tống trở lên đã thành đời thái cổ rồi, mà kẻ học giả bỏ gần cầu xa là cớ làm sao ?”. Lại quay ra hỏi Thiêm sự Lê Văn Đức, thì họ Lê đáp rằng : “Thần cũng chỉ học văn cử nghiệp mà thôi !”. Vua lại phán : “Văn cử nghiệp khiến lầm người ta đã lâu. Trẫm cho rằng, văn chương vẫn không nhất định. Nay văn cử nghiệp chỉ câu nệ sáo cũ, lên mặt với nhau, đứng riêng bè đảng, nhân phẩm lấy đấy làm cao thấp, khoa trường lấy đấy làm đỗ hỏng ; học hành như thế, lạ gì nhân tài mỗi ngày một kém ! Nhưng tập tục theo nhau, khó mà sửa đổi, vài năm nữa nên bàn sửa đổi”.

◆ (Quá lười tầm tra trích dẫn) Trong Thực lục có nói, Minh Mệnh hỏi quần thần là tục dựng cây nêu dựa theo điển tích nào, các quan trả lời là chẳng dựa theo gì hết. Thế nghĩa là, cổ tích “Cây nêu ngày tết” đến hồi đó còn chưa xuất hiện. Mà trong truyện có nhắc đến bắp ngô, một giống lương thực chỉ được tìm thấy từ thế kỷ XVI – XVII ; thêm nữa, “con quỷ” được nhắc tới ở đây “bị đuổi ra biển”. Ai đó đã troll người Pháp bằng truyện này, rồi các bạn Pháp cũng rất “ngây thơ” chép lại và truyền bá như thật luôn.

Une ambassade Française à Hué en 1874 - Tirailleurs Annamites

◆ Vua từng xem sử sách đời Lê, bảo Phan Huy Thực rằng : “Trẫm xem cuối đời Lê Trịnh kỷ cương rối loạn, một việc kiêu binh lại là việc loạn lạ lùng, từ xưa chưa có, thực đáng thở dài. Trẫm từng nghe việc loạn ở nước Phú Lãng Sa, bắt đầu có người yêu quái truyền nói ở trong nước rằng : Phàm loài có miệng răng đầu tóc đều là người cả, sao lại để cho giàu nghèo không đều. Thế là ùa nhau nổi lên cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo để cho đều nhau, dần đến loạn to, so với việc kiêu binh cuối đời Lê việc cũng giống nhau. Nhưng đảng loạn nước Phú Lãng Sa cuối cùng bị diệt mà kiêu binh thì không từng có kết cục, lại như lọt lưới thì lạ thực” (Đây vua nhắc đến Đại cách mạng 1789 chăng ?).

◆ Trước kia người Phú Lãng Sa là Nguyễn Văn Chấn dâng hai cái ống nhòm bằng đồng của Tây dương, gọi là ống nhòm mặt trời. Vua để một cái ở trong cung, một cái cho Khâm Thiên giám, chưa có ai biết dùng. Vua từng khi rỗi đem xem biết được cách dùng, gọi Phan Huy Thực và Nguyễn Danh Giáp, bảo rằng : “Cái ống nhòm này, để bằng, để lệch, để cao, để thấp, độ số khác nhau, gần thì đo được núi non, xa thì xem được trời đất, rất là diệu kỳ”. Bèn chỉ vẽ cặn kẽ cho họ tự biết suy xét.

◆ Bổ người Tây dương là Phú-hoài-nhân làm Chánh thất phẩm thông dịch ti Hành nhân, Tây-hoài-hoa và Tây-hoài-hóa làm Tòng thất phẩm thông dịch ti Hành nhân, mỗi tháng cấp cho mỗi người 20 quan tiền, 4 phương gạo lương, 1 phương gạo trắng, sai phủ Thừa Thiên trông coi, cấm không được ra ngoài dạy học trò để truyền giáo (Bọn Hoài-nhân đều là tên họ vua đặt cho). Lại ban súng đạn nhỏ của Tây dương (cũng gọi là “Chưởng tâm lôi”) cho các đình thần.

◆ Thuyền buôn Phú Lãng Sa bị gió dạt vào cửa biển Đà Nẵng, xin đem thuyền ấy nộp cho nhà nước. Vua sắc cho Quảng Nam đem bạc kho trả cho đúng giá. Nhân sai Thống chế Nguyễn Tài Năng đốc suất lính và thợ sửa chữa thuyền ấy, đặt tên là thuyền An Dương.

◆ Vua lại bảo thị thần rằng : “Người có nước có hai việc sửa đức và thiết hiểm đều không thể thiếu được. Nay trẫm chế tạo tàu đồng là muốn giữ những chỗ yếu hại ven biển, làm xưởng chứa sẵn đấy, để lúc có việc dùng đến. Vả lại chỗ yếu lại không đâu bằng vụng Trà Sơn. Tàu ngoại quốc đến chỉ có thể đỗ ở đấy, mà chướng khí rất dữ, giếng độc hơn mười cái. Trước có tàu Tây dương tránh gió đến đấy, cuối cùng bị nước độc làm hại, do đấy mà nói rằng người ngoại quốc dù có muốn dòm ngó cũng không sao làm được. Hơn nữa do đó ta lại giữ được chỗ hiểm để có thể vận dụng tàu thuyền kia mà”.

Trường An

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: