Bốn mùa vui câu quan họ


Tay tiên chuốc chén rượu đào,
Đổ đi thời tiếc uống vào thời say.
Tay nâng đĩa muối đĩa gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
Đôi tay nâng lấy đồng tiền,
Bẻ ba bẻ bốn thề nguyền lấy nhau.

Quan họ (Nguyễn Hoàng Hoanh)

Trong những ngày xuân hoặc đêm hè, không gì thú bằng được nghe mấy làn điệu quan họ. Tôi tuy không phải người Kinh Bắc, nhưng yêu đắm đuối những tiếng ca bị xem là cố cựu ấy. Vả, đâu cứ phải là người Bắc mới được yêu quan họ, phải không ?

Mà thực ra, quan họ (官賀) chỉ là một cách gọi tương đối của thứ ca nhạc này. Những câu ca đượm tâm tình ý nhị mà liền anh liền chị trao gửi cho nhau, hoặc cho người thưởng thức. Nhiều người cho quan họ là những lời ca giao duyên mộc mạc, nhưng theo tôi là họ lầm. Đất Kinh Bắc vốn là chốn dung thân của giới quý tộc bao đời (“quý tộc” khác “thượng lưu” nhé), cho nên nhiều khi được gọi là đất danh giá, các đế vương suốt dọc lịch sử thường chọn con gái Bắc làm hậu phi, vậy chí ít thì nơi đây phải có cuộc sống phồn hoa hơn hẳn mọi vùng khác trong nước. Vì thế, tất quan họ phải là thú chơi cao sang tương hợp với lối sống thanh nhã phú quý của người nơi đây (nếu không thế thì sao tồn tại được mãi ?). Mơ màng thưởng câu quan họ, tôi ngỡ như mình lạc vào không gian của những văn nhân tài tử, toàn những hò hẹn trăng hoa như con thuyền không bến vậy.

Quan họ mùa xuân (Thế Đức)

Tôi cũng không cho rằng quan họ đã xuất hiện trước thời Nguyễn, hoặc ít ra là trước thế kỷ XVIII, tuy đã thất truyền nhiều bài ca và làn điệu, nhưng số còn lại vẫn cho biết chút manh mối về lịch sử quan họ : Cách xưng hô “anh hai, anh ba, anh tư…” và không có “anh cả” thực ra chỉ có từ triều Gia Long, vì húy kị Đông cung Cảnh – vốn được hoàng tộc gọi là “ông hoàng cả” ; trường hợp các chữ “huê” (hoa) và “thời” (thì) cũng vậy, là một cách kiêng húy Tá Thiên hoàng hậu và Nguyễn Dực Tôn đế. Nhưng, đặc trưng của quan họ là có nhiều hư từ và liên từ, cũng có vẻ như bảo lưu một số nét của tiếng Việt trung đại (âm chắp dính).

Tưởng cũng nên nhắc lại, quan họ không mộc mạc chân chất như nhiều người nghĩ. Quan họ hát theo lối cổ phải chậm rãi, đượm buồn gần giống ca trù và trọng sự luyến láy ; các bài ca lại thường lấy tứ ở cổ thi Đường Tống, nhiều câu phải luận mãi mới hiểu được chân ý, mà hay kể truyện trèo non vượt bể, thậm chí lên tiên cung, tuy vẫn là câu ca tâm tình người gửi người hoặc độc thoại nhưng đều đượm vẻ thoát tục, không có chút gì gọi là “hiện thực”. Thứ “hiện thực” chỉ được đưa vào quan họ ở những năm hậu kỳ hiện đại, nào là ca tụng đất Kinh Bắc, nào là tôn vinh những chiến công, nào là bày đặt tâm hồn người quan họ… so với trước thì quan họ mất hẳn thần khí, câu ca cũng trở thành chai cứng, thiếu tế nhị.

Quan họ Bắc Ninh (Nguyễn Văn Phương)

Trong các giọng ca quan họ, tôi yêu nhất cô Thúy Hường, chú Quang Vinh và cả bà Thanh Huyền. Bà Thanh Huyền tuy không phải ca sĩ được dạy thành thục về quan họ, nhưng một số bài như Xe chỉ luồn kim, Người ở đừng về, Ai xuôi về thì bà ngâm nga còn hay hơn các giọng quan họ thượng hạng, tuy có chút hơi… opera. Quãng thập niên 1990 còn có chú Xuân Hinh, cô Thu Huyền vốn là nghệ sĩ chèo, cũng ca quan họ, rằng hay thì cũng là hay nhưng rất khó nghe ra chất quan họ. Hẳn vì làn hơi quan họ ngắn hơn làn hơi của chèo vậy ! Nhưng sau những giọng ca ấy, liệu còn ai khiến tôi si mê nữa hay thôi ?

Long Vân

Advertisements
Categories: ♥♥ Âm nhạc chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: