Nhân đọc “Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ”


Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ – Nguyễn Hữu Thông chủ biên – NXB Thuận Hóa. Mấy hôm trước mua lại được cuốn này của người quen, ngồi đọc nghiến ngấu đến giờ, thì đúng là vỡ vạc được rất nhiều.

Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ (Nguyễn Hữu Thông)

Phải nói đây là cuốn sách nghiên cứu có chất lượng rất cao, nhóm tác giả đã bỏ công khảo cứu các tư liệu lịch sử rất tường tận, phân tích cặn kẽ. Không những vậy trong gần 700 trang của sách thì nhóm tác giả đã dành tới gần 400 trang để trưng bày các tư liệu, là bản sao các hương ước, quy tắc của các làng Trung Bộ với phần dịch nghĩa rõ ràng. Cuốn sách này đã phá tan rất nhiều hiểu nhầm của mình trước đây về nông thôn xưa.

Đầu tiên, trước mình nghĩ mọi làng đều phải có hương ước định lệ từ lâu đời nhưng với sự khảo cứu, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng : Thực chất các hương ước không chỉ ở khu vực các làng Trung Bộ mà nhiều nơi khác phần lớn có tuổi đời không cao, thường trung bình khoảng 300 năm đổ lại. Thậm chí nhiều làng chỉ lập ra hương ước thành văn vào những năm 30 – 40 của thế kỷ XX theo chính sách Cải lương hương chính của nhà Nguyễn. Tức là trước đó nhiều làng không có các bản hương ước thành văn mà chỉ hoàn toàn dựa vào các “văn bản vô hình”, tập tục ngầm, tức “lệ làng”. Như nhóm tác giả viết : “Trong đời sống làng xã xưa, lệ làng và dư luận chính là hành lang pháp lý, hành lang đạo đức tinh thần, mà mọi thành viên của làng quy chiếu như một luật bất thành văn“. Cái câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng” chính là nói tới các lệ bất thành văn này. Nhưng một khi đã được viết thành văn bản quy rõ các điều, được hương chức, lý dịch và đại diện các phe, trùm của làng đồng thuận và ký tên thì hương ước lại trở thành các ”văn bản dưới luật, nhưng trước hết luôn với tinh thần là thần dân, công dân của đất nước, rồi sau mới đến trách nhiệm của dân làng xã“.

Thứ nữa, quan điểm của mình về hương ước, điều lệ ở nông thôn xưa vốn không mấy thiện cảm, cho rằng chúng thường là nơi lưu giữ các hủ tục, đè nén con người. Nhưng đọc các tư liệu trong sách thì mới thấy, có rất nhiều hương ước, điều lệ làng được đề ra rất đúng đắn hợp lý và như chính các tác giả nói là “có giá trị về thực tiễn tới tận ngày hôm nay“. Một số ví dụ :

◆ Về việc quan hôn tang tế thì trái với suy nghĩ lâu nay của mình, các hương ước lại đều đề cao tinh thần “tùy gia phong kiệm“.

Thậm chí chặt chẽ hơn như hương ước của làng Phong Lai (Quảng Điền, Huế) lập năm Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901) còn dẫn lời của Trang Tử : “Sự cưới gả mà nói đến của cải là cái đạo của bọn mọi rợ“. Rồi từ đó quy định “việc sinh lễ là từ nhà trai, nhà gái hoàn toàn không được yêu sách“. Tương tự, hương ước của làng Lễ Khê (Hương Trà, Huế) lập năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842) quy định : “Không kể thuộc hạng người nào, không được cầm bán ruộng, cũng không được đòi hỏi tiền bạc, áo quần (trừ phi nhà trai có của nên tự nguyện mang các thức áo quần, nữ trang ra làm sính lễ)“. Hương ước làng Dã Lê Thượng (Hương Thủy, Huế) lập năm Nhâm Tí, niên hiệu Duy Tân thứ 6 (1912) quy định trong việc tang, dân làng có trách nhiệm giúp đỡ tang chủ theo phương châm “nhất gia hữu sự, bá gia nan“. Về phần cỗ bàn thì nhiều ít tùy gia cảnh tang chủ, không ai được đòi hỏi, nếu như : “Phàm ai ăn uống vô độ, nói năng bậy bạ, bày chuyện rối loạn làm hại, gây náo động tang chủ, nhẹ thì bị trách phạt mâm trầu rượu (giá 5 hào), nặng thì trình quan trên xét xử“.

◆ Để chỉnh đốn phong hóa, thói tục các hương ước cũng có nhiều điểm thú vị.

Hương ước của làng Lễ Khê (đã dẫn ở trên) để ngăn cấm nạn rượu chè bê tha đã viết rằng : “Đời xưa, bậc quân tử uống rượu, 1 chén thì vẻ mặt ngất ngây, 2 chén thì tiếng nói sang sảng, 3 chén thì miệng lưỡi trơn tru như dầu. Cho nên rượu uống mà vừa phải thì như thang thuốc thái hòa, uống mà buông thả thi thành ra cam tích“. Từ đó quy định nhà tang và hội làng đều cấm rượu, còn lại các cuộc lễ vui (lễ mừng, lễ cới) thì được uống nhưng phải hạn chế số lượng “ai uống say sưa đến nỗi nói càn dỡ bậy bạ, phạt tiền 2 hào, nếu đâm ra chửi mắng nhau, thì lần đầu phạt một mâm trầu rượu (giá 4 hào), lần 2 thì phạt tăng thêm ; chủ nhà phạt tiền 1 đồng, lần 2 tăng thêm. Đã phạt mà vẫn còn quen thói say sưa chè rượu chẳng chừa, phạm tới lần 3 thì ghi tên niêm yết ở nơi công sở và kê phẩm hạnh kẻ đó lên quan trên để trị tội“.

Nhưng các quy định khiến mình ấn tượng nhất thì phải là của làng Đức Phổ (Quảng Ninh, Quảng Bình) vì nó mang tính tiên bộ trước cả thời đại, cụ thể như sau :

– Từ việc làng tới tư gia, khi tế lễ cúng kị, cấm dùng giấy vàng bạc và đồ mã. Ai bất tuân có phạt.
– Trừ việc làng ngoại, các tư gia cúng kị mà hội họp quá 20 người thì phải xin phép làng. Nếu bất tuân sẽ bị phạt.
– Cấm dân làng không được sinh nhai về nghề đồng bóng, thầy cúng. Nếu không tuân, có phạt nặng.
– Dân trong làng ai mê tín về sự đồng bóng, có phạt.
– Trong làng nếu có người đau yếu thì đi nhà thương hoặc mời thầy thuốc, cấm theo lời đồng bóng, thầy phù thủy mà lập đàn cúng tế.
– Tư gia có yến tiệc phải hạn chế rượu chè quá đà, cấm say sưa làm ồn, đánh chửi nhau, gây huyên náo làng xóm.
– Phàm người không có nghề nghiệp làm ăn chính đáng mà tụ tập rượu chè lêu lổng, dần thành thói xấu, lần đầu thì bị phạt, tái phạm gia bội và yết tên thân minh đinh.

◆ Ngoài ra còn rất nhiều điểm hay nữa có thể tìm thấy trong các hương ước.

Ví như Phò Trạch (Phong Điền, Huế) có quy định về việc khai thác và bảo vệ vùng rừng rú cát chắn sóng, chống xói lở của làng. Theo đó làng chia vùng rừng làm 5 phần, tuần tự mỗi năm một phần chia theo số khẩu các nhà trong làng, để khai thác làm củi đốt, xây dựng… nhưng việc khai thác đó chỉ được diễn ra trong 2 ngày mùa hạ. Sau 5 năm lại quay vòng chu kỳ. Thời gian còn lại, làng lập riêng một đội tuần kiểm giám sát, tránh để khu vực rừng bị xâm hại, mọi vi phạm đều bị nghiêm trị. Hộ dân nào đăng ký khai thác rừng phải nộp thóc gạo, tiền cho đội tuần kiểm. Theo như nhóm tác giả phương thức này rất có hiệu quả tới độ vào lúc viết cuốn sách này (khoảng năm 2005 – 2006) vẫn được làng duy trì.

Đúng là được mở rộng thêm hiểu biết rất nhiều !

Nguyễn Văn Hiệu

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: