Vấn đề xung đột văn nghệ Nam-Bắc (kỳ 1) : Văn chương và âm nhạc


Kình Văn : Cậu chịu khó đọc thử đoạn này… Đây tớ không bàn về chính trị nữa đâu nhé, vì quả thực có sự khinh bỉ không-hề-nhẹ của người Bắc (như cậu) đối với văn nghệ miền Nam. Hồi tớ còn học, các thầy cô nói rõ hơn, là phải rất khó khăn các học giả ở Hà Nội khoảng 1970s mới xin được bộ Giáo Dục đưa các trứ tác văn học miền Nam vào sách giáo khoa, mà đó chỉ là mấy bài văn kháng chiến thôi đấy.

Cho nên, khó có thể đồng ý với nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, khi tổng kết hành trình lịch sử Việt Nam từ phong trào Duy Tân đến Tự Lực Văn Đoàn, ông cho rằng : Mười điều tâm niệm mà Hoàng Đạo đưa ra, cụ Phan, cụ Huỳnh… đều đã làm trước rồi. Và theo ông : “Bây giờ [tức là năm 1968] người ta tìm đọc văn phẩm của Tự Lực Văn Đoàn như tìm những truyện tình không hạ cấp. Thế thôi” (Nguyễn Văn Xuân, Hoàng Đạo với “Con đường sáng”, tạp chí Văn, Sài Gòn, số 107-108 tưởng niệm Hoàng Đạo, ra ngày 17/05/1968. Cũng trong số báo ấy có đăng bài phản bác của Thế Uyên “Đọc và đặt lại vị trí Hoàng Đạo”.

Tại sao một nhà nghiên cứu có tiếng là đứng đắn như Nguyễn Văn Xuân lại viết những dòng “hồ đồ” như thế ? Rất có thể là bởi những dòng này nằm trong tư tưởng “bài Bắc” nói chung, sau 1954, và “bài Tự Lực” nói riêng, khá phổ biến lúc bấy giờ. Điều oái oăm là những nhà văn Bắc trong nhóm Sáng Tạo cũng góp phần đắc lực cho phong trào này. Xét kỹ hơn, cùng là chữ “bài”, nhưng có hai nguyên do khác nhau : Sự bài Tự Lực của Sáng Tạo mang tính cách văn học – Nhóm Sáng Tạo muốn “chôn” đàn anh để đổi mới. Sự tẩy chay Tự Lực ở Nguyễn Văn Xuân mang tính cách tranh chấp Bắc Nam, phản ứng chống lại sự “ngự trị” gần như độc quyền và đôi khi trịch thượng của các nhà văn Bắc di cư trên văn đàn miền Nam, sau 1954. Nguyễn Văn Xuân muốn đả phá toàn bộ những bất công trong việc đề cao nền báo chí và các tác gia miền Bắc mà bỏ rơi nền báo chí Nam Kỳ, xuất hiện sớm hơn và hoạt động mạnh mẽ hơn, cùng việc coi nhẹ các tác gia miền Nam. Những sai lầm này – xuất phát từ các nhà nghiên cứu Bắc, từ Dương Quảng Hàm đến Vũ Ngọc Phan, trong văn học sử và trong phê bình văn học – đã chỉ đạo cho một nền giáo dục “Bắc khuynh” trong nhà trường miền Nam lúc bấy giờ. Đặt trong bối cảnh ấy, ta hiểu rõ hơn những lời nặng nề và bất công mà Nguyễn Văn Xuân dành cho Tự Lực Văn Đoàn nói chung và Hoàng Đạo nói riêng.

Tạp chí Văn - Tưởng niệm Nhất Linh

Nguyễn Văn Hiệu : Tớ cũng không cần phải giấu là tớ có sự đánh giá không cao văn học nghệ thuật miền Nam, nhưng nó cũng không phải vì chính trị mà thuần túy đúc kết từ quan sát và cảm nhận (có thể đúng hay sai). Nhưng như ý bài cậu vừa dẫn là gì thì nói rõ hơn chút đi.

Kình Văn : Thực ra có một hiện tượng thú vị khi tớ tìm hiểu văn học miền Nam giai đoạn 1954-75 ấy (bao gồm văn học Việt Nam Cộng hòa và đám du kích) là, đã có một sự xung đột giữa hai lớp nghệ sĩ Bắc và Nam. Mà tớ nói thật, người Nam đã coi lớp Bắc di cư 1954 như đội quân chiếm đóng vậy. Đây không phải vấn đề về chiếm đất thuần túy, mà là họ len vào các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… và đúng là chiếm hầu hết các vị trí quan trọng dưới sự bảo trợ của chính quyền. Vì cậu nên nhớ, nội các Ngô Đình Diệm vốn từ miền Trung, họ đi lên nhờ lá phiếu của giới cử tri miền Bắc. Và thực ra, văn nghệ miền Nam chưa bao giờ được coi là đối tượng nghiên cứu trong học giới cả, đã không nghiên cứu thì dĩ nhiên không có tri thức. Còn góc độ bình dân hơn, tức là giữa tớ và cậu ấy, thì tớ nghĩ cần có sự hiểu thấu nhau hơn. Ví dụ nhỏ, khi cậu khẳng định miền Nam chưa bao giờ có âm nhạc hàn lâm kiểu Tây phương ấy, tớ thì nghĩ phải tùy thị hiếu đám đông nữa, và một lẽ là miền Nam những năm 1954-75 thực tế là “miền Nam +”, vì lúc đó có sự tham dự của khối người Bắc di cư mà chắc chắn đem theo nhiều tinh hoa của Hà Nội. Vậy thì, thực sự riêng tớ không tin họ chưa từng có những hình thức cao cấp nhất của văn nghệ.

Tạp chí Văn - Tưởng niệm Khái HưngTạp chí Văn - Võ Phiến

Nguyễn Văn Hiệu : Các hình thức văn hóa nghệ thuật khác tớ chưa dám bàn, nhưng nhạc giao hưởng cổ điển thì tớ dám chắc trước năm 1975 miền Nam chưa từng có dàn nhạc giao hưởng đúng nghĩa, cũng chưa từng có các hình thức biểu diễn âm nhạc cổ điển chuẩn theo đúng quy tắc. Vì rất đơn giản như tớ từng nói, âm nhạc Cổ Điển – ngược chút về quá khứ – thời Pháp thuộc, các hình thức biểu diễn nhạc cổ điển ở Việt Nam chỉ mới dừng lại ở Waltz tứ tấu đàn dây, một dàn nhạc đủ quản theo đúng tiêu chuẩn gần như không xuất hiện. Cậu không tin cứ đọc hồi ký của mọi nhạc sĩ thời này, và cả các nhà văn, sẽ hiểu. Đến sành sỏi uyên bác như cụ Nguyễn Tuân cũng chỉ biết được đến ban nhạc 8 người chơi Waltz rồi đưa vào truyện ngắn thôi. Năm 1954 vụ di cư vào Nam thì lúc đó ngay chính ở miền Bắc cũng chưa có dàn nhạc giao hưởng cổ điển, nên tinh hoa Hà Nội có vào Nam cũng chưa ai biết gì về nhạc cổ điển đâu. Phải tới năm 1956 khi Học viện Âm nhạc Việt Nam được lập ra thì dàn nhạc cổ điển mới xuất hiện lần đầu, và dù nói ra sao thì cậu cũng nên nhớ, chính Liên Xô đã giúp Việt Nam lập ra nền âm nhạc Cổ Điển. Tháng 11 năm ngoái tớ về dự lễ kỷ niệm 60 năm nhạc viện, đã có dịp xem các tài liệu về lịch sử hình thành nhạc cổ điển Việt Nam.

Kình Văn : Cậu nói thì tớ tin, tại vì cũng biết sơ qua hồi ký Phạm Duy rồi. Nhưng đó là thời điểm khi người Pháp còn nắm chính trị, còn từ 1945 cách này hay cách khác thì người Việt đã giữ vai trò quyết định. Mà kể cũng hơi tiếc vì lúc đó miền Nam có dư điều kiện để gầy dựng nền âm nhạc phong cách cổ điển hơn, vì quãng năm 1972 khi nhạc sĩ Phạm Duy và ca sĩ Thanh Lan sang Nhật biểu diễn còn phải choáng ngợp về dàn giao hưởng của họ, dù giao hưởng này chỉ đệm cho nhạc trẻ thôi.

Nguyễn Văn Hiệu : Biết sao được.

Kình Văn : Cậu chắc loáng thoáng nghe cụm từ “tiếng tơ đồng”. 🙂 Đây là ban nhạc do nhạc sĩ Hoàng Trọng lập ra, sau thành chết danh luôn. Dàn nhạc Tiếng Tơ Đồng là lớn nhất ở miền Nam lúc đó, mà hầu hết ca-nhạc sĩ đều từ miền Bắc.

tiengtodong-hoangtrong

Nguyễn Văn Hiệu : Mấy cái này tớ biết qua rồi, nhưng thực chất đây cũng không hơn dạng ban nhạc 8 người thời Pháp mấy, còn xa mới đủ khả năng hợp thành dàn nhạc giao hưởng. 😛 Tớ nói thực, không có ý thiên kiến gì đâu. À mà tặng cậu nè, bản khí nhạc Chào mừng, một tác phẩm âm-nhạc-chương dành cho dàn giao hưởng, sáng tác bởi cụ Trọng Bằng. Cái hình nền là ảnh chụp một trong những buổi biểu diễn đầu tiên của VNSO năm 1969 đó.

Kình Văn : 🙂

Nguyễn Văn Hiệu : Đoạn trong clip là Mozart Violon Concerto số 5. Rất Cổ Điển, rất Nghệ Thuật… đoạn phim này quay năm 1972. Tớ quên mất hôm đó không hỏi cô gái đang chơi nhạc là ai, giọng thuyết minh cũng là của cô ấy.

Violinist Nguyen Tuyet Trang in 1972

Kình Văn : Giờ “cô ấy” chống gậy rồi. 😀

Nguyễn Văn Hiệu : À nhớ ra rồi, đó là nghệ sĩ violon Nguyễn Tuyết Trang, cựu thành viên của VNSO nay đã nghỉ hưu. Cô ấy đã hơn 70 rồi. 😛

moclan17

moclan22

tiengtodong1

tiengtodong2

tiengtodong3

tiengtodong4

tiengtodong5

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: