Hôn lễ hoàng gia An Nam gồm những sính vật gì ?


Minh đang thắc mắc một chút về các quy chế hôn sự, cưới gả của hoàng gia trong lịch sử Việt Nam. Có tài liệu nào để tham khảo hay có ai có thể cung cấp thông tin cho mình được không? Nói cụ thể hơn là mình thắc mắc nhất về quy định số tiền bạc sẽ được dùng cho hôn sự ấy, vì đọc sử thấy người ta nói nhiều về mấy việc lễ nghi trong cưới hỏi nhưng chả chả thấy nhắc về chuyện tiền nong. 😃

Un mariage 1907

Hôm qua có bạn đăng trên này hỏi về quy định chuyện vật chất ở hôn sự của hoàng tộc trong LSVN, mình định comment luôn bên dưới nhưng do dài nên hôm nay mình đáp lại bằng một stt riêng vậy.

– Trong lịch sử thời Lý – Trần về trước chưa khảo xét được vì thiếu tài liệu, chỉ sót lại các ghi chép lẻ tẻ về chuyện cưới gả trong hoàng gia, nhưng không đủ thông tin về các quy định rõ ràng của triều đình trong việc này.

– Thời Lê Sơ – Lê trung Hưng, “Lịch triều hiến chương loại chí” trong phần “Quốc dụng chí” có đề cập tới hầu hết các loại thuế má – thưởng cấp, nhưng các khoản chu cấp trong hôn sự thì không thấy có, không hiểu tại sao ?! (Cũng có thể do mình chưa xem xét được nhiều tại liệu nên chưa biết).

– Thời Nguyễn, là thời kỳ gần nhất nên rất may còn lưu giữ lại được hầu hết các thư tịch liên quan. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (Xin gọi tắt là Hội Điển) có cung cấp thông tin về chế độ cấp phát cho các hoàng nữ – hoàng tử như dưới đây.
A) Của hồi môn của hoàng nữ trong hoàng tộc.

– Hoàng trưởng nữ (Con gái trưởng) của Hoàng hậu của hồi môn các loại quy ra tiền được cấp: 50.000 quan.
– Hoàng thữ nữ (Con gái thứ) của Hoàng hậu: 40.000 quan.
– Hoàng trưởng nữ nhưng không do Hoàng hậu sinh ra: 30.000 quan.
– Hoàng thứ nữ không do Hoàng hậu sinh ra: 30.000 hoặc 20.000 quan.

– Trưởng nữ do Chính phi của Hoàng thái tử (HTT) sinh ra: 8000 quan.
– Thứ nữ của Chính phi HTT: 5000 – 6000 quan.
– Trưởng nữ do các thứ phi của HTT sinh ra: 5000 quan.
– Thứ nữ của Thứ phi HTT: 4000 quan

– Con gái trưởng của các Hoàng tử (HT) và Công tước (CT) do Chính phi – Chính thất sinh ra: 5000 quan
– Con gái thứ sinh ra bởi Chính phi – Chính thất của HT – CT: 3000 quan.
– Thứ nữ sinh ra bởi Thứ phi – Vợ lẽ trở xuống của HT – CT: 2000 quan.

– Cháu gái trưởng của HTT do đích mẫu sinh ra: 3000 quan.
– Cháu gái thứ HTT do thứ mẫu sinh ra: 2000 quan.
– Cháu gái trưởng HTT do thứ mẫu sinh ra: 2000 quan.
– Cháu gái thứ HTT do thứ mẫu sinh ra: 1000 quan.

– Cháu gái trưởng của HT – CT do đích mẫu sinh ra: 1500 quan.
– Cháu gái thứ của HT – CT do đích mẫu sinh ra: 1000 quan.
– Còn lại đều là 700 quan.

– Con gái trưởng của Trưởng công chúa và công chúa: 3000 – 2000 quan.
– Con gái thứ: 1000 quan.

– Con gái trưởng của các CT thuộc họ xa do đích mẫu sinh ra: 2500 quan.
– Con gái do thứ mẫu sinh ra bất kể trưởng thứ đều 2000 quan.

B) Sính lễ của hoảng tử khi lấy vợ và của nhà trai khi được gả hoàng nữ cho.

– Sính lễ cơ bản của Hoàng tử được chia làm 2 lần đưa, lần 1 được đưa vào ngày truyền chỉ định hôn bao gồm:
+) 1 mâm trầu cau, 2 hũ rượu tốt.
+) Tam sinh (trâu – lợn – bò) mỗi thứ 1 con.
+) Xuyến vàng – hoa tai vàng – chuỗi ngọc trai: 1 đôi.
+) 1 bộ trâm vàng.
+) 6 tấm gấm thêu, 10 tấm lụa thượng hạng, 20 tấm vải tốt.
+) 2 nén vàng – 4 nén bạc.

– Lần đưa sính lễ thứ 2 là vào hôm đón dâu, gồm:
+) Tam sinh, trầu, rượu như trên.
+) 1 xuyến vàng – 1 trâm vàng.
+) 4 nén vàng – 6 nén bạc.
+) 10 tấm gấm thêu, 20 tấm lụa thượng hạng, 30 tấm vải tốt.
+) 1 bộ đồ mặc tốt với váy áo, hài thêu cho cô dâu.
+) 1 bộ kiệu và lọng.
– Sở dĩ gọi là “sính lễ cơ bản” vì ngày xưa số sính lễ nhiều ít, đưa mấy lần còn do nhà gái thỏa thuận với nhà trai, trong quá trình chuẩn bị nhà gái có thể chấp nhận hoặc đòi hơn mức trên.

– Về sính lễ của nhà trai đưa đến khi cưới hoàng nữ. Trước hết, xét theo tôn ti xã hội phong kiến, các hoàng nữ dẫu là phụ nữ thì vẫn ở vị trí cao bậc nhất, hoàng nữ đi lấy chồng, vốn đã là sự ban ơn cho nhà trai (nên thời Nguyễn gọi việc xuất giá này là “hạ mã” – xuống ngựa), nếu đưa lễ vật cho hợp danh phận thì thực không biết bao nhiêu cho đủ, mà nhà trai cũng chả biết có kiếm nổi tài vật để dâng lễ.

– Hoàng đế Thiệu Trị hiểu được điều này nên có xuống chiếu như sau :”Đời xưa vua Nghiêu gả 2 con gái cho Ngu Thuấn ở Vi Nhuế chả nghe nói lễ cưới sang trọng. Hơn nữa đám cưới chỉ dùng hai da hươu làm lễ, xưa kia vẫn nói thế. Nay gả Hoàng nữ cho con các đại thần. Mà các đại thần thanh thận trung cần, trẫm vẫn biết sẵn. Vậy 6 lễ cưới (nạp thái , vấn danh vv.. ) cho tùy theo cảnh nhà giầu nghèo mà sắm sửa, không nên ấn định lễ vật. Bộ lễ bàn định các thứ phẩm vật, chớ nên bầy đặt quá nhiều. Vậy các chủ hôn cần biết rõ “

– Tuy thế, đến nhà dân thường dựng vợ gả chồng cho con dù nghèo cũng cố xoay sở sao cho tươm tất nhất có thể, đây lại là lấy hoàng nữ về làm dâu, dẫu Hoàng đế có răn dạy như trên, nhưng các quan có dám dùng lễ đơn giản mà đón dâu hay không, cái đó cũng khó nói.

– Nếu như của hồi môn của hoàng nữ và sính lễ hoàng tử được định lệ tương đối chặt chẽ. Thì ngược lại, sính lễ của nhà trai khi cưới hoàng nữ lại khá mềm dẻo, gần như không có tính thống nhất, mỗi thời vua, mỗi năm, thậm chí mỗi đám cưới trong năm, triều đình lại đưa ra các định mức sính lễ khác nhau tùy theo điều kiện nhà trai. Có khi chỉ rõ các lễ vật phải dâng rất chi li, món này dùng trong lễ này, vật này dâng vào lễ nọ. Lúc lại lệnh dâng sính lễ một lần gộp cho cả mấy lễ một lúc, lần thì nói rất chung chung và đơn giản là vào ngày ấy, giờ ấy, lễ ấy thì cứ mang các thức lễ vật đến, định lượng bao nhiêu không nói…..

– Chính vì quy định sính lễ đón dâu quá đa dạng, hay biến đổi, nên mình không thể thống kê hết được, chỉ xin đưa ra mấy ví dụ điển hình dưới đây:
+) Năm Gia Long thứ 4 (1806) quy định lễ vấn danh, nhà trai trước một ngày phải mang tới 2 con lợn mổ, 2 con lợn quay, 2 mâm xôi gấc, 2 mâm trầu cau.

+) Năm Gia Long thứ 7 (1809), lại bỏ quy định trên thay bằng việc hôm làm lễ vấn danh chính thức, nhà trai mang sính lễ gồm: trâu – lợn 1 con, 1 mâm trầu cau, 4 tấm gấm, 10 tấm lĩnh the, 2 hũ rượu tốt, 1 đôi xuyến vàng, 1 nén vàng, 16 nén bạc.

+) Cùng năm trên quy định lễ nghinh hôn dùng sính lễ là: tam sinh (trâu – bò – lợn) mỗi thứ 2 con, 1 mâm cau trầu, 2 hũ rượu tốt, 1 nén vàng, 24 nén bạc, 20 tấm lĩnh the, 6 tấm gấm.

+) Năm Minh Mệnh thứ 5 (1825) quy định sính lễ gộp luôn cho lễ vấn danh và nạp thái gồm: một cỗ tiền 100 đồng, 4 tấm gấm thêu, 10 tấm lĩnh màu, 1 cặp tóc vàng, 12 trâm phượng vàng. Còn lại theo như lễ cũ.

+) Đến năm Minh Mệnh thứ 14 (1834) lại sửa, quy định lễ nạp thái phải đưa sính lễ là: 4 mâm trầu cau, 100 lạng bạc, 20 lạng vàng. Còn lễ vấn danh thì đưa 2 hũ rượu tốt, 2 con lợn, 2 trâu.

…….

Trên đây là một số thông tin mình biết được, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người góp ý vậy !  

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: