Sự đãi ngộ quan chức thuở xưa thế nào ?


Mình xin phép hỏi một câu hơi “thiếu muối” một chút, hôm qua mình đọc được tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống về thời Nguyễn. Có đoạn tác giả cho nhân vật (là quan chức tham nhũng), bao biện cho hành vi của mình, đại ý rằng, quan lại thời Nguyễn mà nếu chỉ dựa vào bổng lộc triều đình ban thì sống rất chật vật, muốn thanh liêm cũng khó. Dĩ nhiên dựa vào tiểu thuyết mà bàn lịch sử thì là vô lý, nhưng mình vẫn muốn biết cái việc chỉ dựa vào lương là khó sống của các quan thời Nguyễn có thực không ?

Thạch Trung : Chả liên quan lắm, nhưng luật thời Nguyễn khá tiến bộ và nghiêm. Năm 1822, dưới triều vua Minh Mệnh, tại Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai nên gạo đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc để bán cho dân. Người quản kho thóc ở kinh là Đặng Văn Khuê được lệnh phát chẩn cho dân, nhưng mỗi hộc lại thiếu một ít. Việc bị phát giác, vua sai bộ Hình tra xét, án xong tâu lên thì vua liền ra lệnh chém. Trong sách ‘Đại Nam thực lục’ còn kể, vào tháng 5 năm 1823, một ông quan của Nội Vụ phủ tên Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng bị phát giác, bộ Hình đem ra xử án. Điều 229 của bộ luật triều Nguyễn có quy định : Kho của vua gọi là Nội Vụ phủ, ở trong cấm địa của hoàng thành, nếu lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu. Tuy nhiên, với Hữu Diệm, thay bằng tuyên án chém thì bộ Hình giảm xuống thành tội lưu đày. Án tâu lên, vua bảo rằng, ở thời vua trước cũng có một viên quan thông đồng với thợ bạc đúc trộm ấn giả để trộm đổi lấy ấn thật trong kho, những tên này đều bị chém ngay. Hữu Diệm dám công nhiên lấy trộm cả cân vàng, thì theo nhà vua trong mắt Diệm đã không còn pháp luật. Vua lệnh giải ngay Hữu Diệm đến chợ Đông Ba chém đầu để răn đe những người khác có ý định phạm tội.

Chính mình cũng từng thắc mắc việc này, nhưng không phải do xem tiểu thuyết mà vì đọc biên chép của cụ tổ mình từng làm quan thời Nguyễn. Để trả lời câu hỏi này cần biết được hai điều : Mức sống trung bình của thường dân thời Nguyễn quy ra tiền ; Các mức lương bổng của quan chức nhà Nguyễn.

Thứ nhất, về mức chi tiêu trung bình, rất tiếc trong phạm vi của mình chưa tìm được bất cứ tài liệu nào.

Thứ nhì, về lương bổng của quan lại nhà Nguyễn, ta có thể tìm được chút thông tin. Vấn đề ở chỗ, các mức lương không cố định trong suốt lịch sử nhà Nguyễn mà luôn thăng giảm tùy thời, chưa kể mức sống mỗi nơi, mỗi thời mỗi khác, gia cảnh mỗi quan lại cũng khác, cùng một mức lương bổng, ở chỗ này sống dư dật, chỗ khác lại khó khăn.

Đây là vấn đề khó nói mà tới tận giờ mình cũng chưa có kết luận trọn vẹn. Bởi thế, chỉ có thể cung cấp các thông tin và nhận định mang tính chất cục bộ cho bạn từ hướng cá nhân mình mà thôi, vì như đã nói trên điều bạn hỏi có tính chất đầy co giãn. Như trường hợp cụ mình, làm quan từ năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) tới năm Tự Đức thứ 21 (1869) thì nghỉ hưu, bảng lương quan lại trong thời điểm đó đại để :

◆ Chánh nhất phầm: Lương bổng các loại cộng lại 1 năm là 470 quan, 300 phương gạo. Như vậy trung bình (TB) mỗi tháng được gần 40 quan, 25 phương gạo.

◆ Tòng nhất phẩm: 360 quan, 250 phương gạo. TB tháng: 30 quan, hơn 20 phương gạo.

◆ Chánh nhị phẩm: 300 quan, 200 phương gạo. TB tháng: 25 quan, gần 16 phương 6 thăng gạo.

◆ Tòng nhị phẩm: 210 quan, 150 phương gạo. TB tháng: hơn 17 quan tiền, hơn 12 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tam phẩm: 170 quan, 120 phương gạo. TB tháng hơn 14 quan, 10 phương gạo.

◆ Tòng tam phẩm: 136 quan, 90 phương gạo. TB tháng hơn 11 quan, hơn 7 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tứ phẩm: 94 quan, 60 phương gạo. TB tháng: gần 8 quan, 5 phương gạo.

◆ Tòng tứ phẩm: 70 quan, 50 phương gạo. TB tháng: gần 6 quan, hơn 4 phương 1 thăng gạo.

◆ Chánh ngũ phẩm: 49 quan, 25 phương gạo. TB tháng: 4 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng ngũ phẩm: 43 quan, 30 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, 2 phương 5 thăng gạo.

◆ Chính lục phẩm: 37 quan, 25 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng lục phẩm: 31 quan, 22 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan; gần 1 phương 8 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng thất phẩm: 27 quan, 20 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan, gần 1 phương 6 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng bát phẩm: 24 quan, 18 phương gạo. TB tháng: 2 quan, 1 phương gạo rưỡi.

◆ Chánh và tòng cửu phẩm: 22 quan, 16 phương gạo. TB tháng: gần 2 quan, 1 phương 3 thăng gạo.

Lưu ý, các chức cụ từng làm theo thứ tự là : Thư lại bút thiếp Tòng cửu phẩm – Tri huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Tòng lục phẩm – Kinh lịch tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – Giáo thụ phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – chức cuối cùng và cao nhất, là Đồng tri phủ Lý Nhân (cũng là quê cụ), tỉnh Hà Nội, Chánh lục phẩm, tuy nhiên, cụ chỉ làm được có ba năm thì bị bệnh phải xin về trí sĩ.

Cụ có viết lại trong tập tạp bút rằng : “… tôi mang ấn thụ, mặc phẩm bào hơn 20 năm, được như ông Nhữ Hiền [1] thì không dám nhận. Dẫu vậy, cũng đã cố hết sức giữ đức thanh thận, cần kiệm, tự xét thấy với triều đình, với đạo nghĩa, với dân tâm, chưa làm việc gì đáng hổ thẹn. Nhưng được thế, cũng là do trước kia thầy học luôn răn dạy nghiêm cẩn về cái lẽ đạo quân tử cốt trọng thanh bần. Gia dĩ, nhờ phúc ấm tổ tông, còn để cho dăm mẫu ruộng với nghề làm lụa, sau cùng, bà vợ già lại biết quản gia sự, khéo làm ăn, nên cảnh nhà không tới nỗi. Chứ nếu dựa cả vào bổng lộc khi cao nhất cũng chỉ hơn 3 quan tiền, 2 phương gạo của tôi mỗi tháng, thì trừ phi chịu cảnh phúc mỏng, đường hương hỏa hẹp [2], còn không, cả nhà 8 miệng ăn, thêm 2 cái túi da hứng tiền [3], thực là khó sống, khó liệu, nhất là đến những khi tháng 3 ngày 8 [4]. Lúc ấy, chả biết đức thanh liêm giữ nổi hay không ?…“, “Lão tiện nội (vợ cả) có lần từng đùa, giá ông làm được đến ông đốc một tỉnh [5], thành ra lương cao, thì cái thân mụ này đỡ phải vất vả chạy vạy, mà ông khéo cũng lập được đến mấy phòng [6], có cái tiếng phong lưu. Đằng này, người ta cho làm tri phủ trẻ ranh [7], giờ về hưu, gì mà chả nghèo ? Tôi nghe chỉ biết cười ha hả…“. 

Các điều cụ viết đã trăm năm có lẻ, dù thực hay không mình không kiểm chứng nổi và cũng không dám thắc mắc, mình cũng chỉ biết là sau này cụ mất cũng không để lại mấy tài sản, con cháu chỉ sàn sàn đủ ăn, không giàu nổi. Vậy ít nhất từ những cái mình thấy được, thì trước thời Pháp thuộc, các quan lại nhà Nguyễn nếu thực sự thanh liêm, hoàn toàn chỉ dựa vào lương bổng, không có nguồn thu khác (cả bất chính lẫn ngay thẳng) thì quan dưới ngũ phẩm có cuộc sống khá bấp bênh, do lương bổng hạn chế cộng với việc nhà đông con cái (cái này thì thời đó đừng nói là quan lại, cả nhà dân thường cũng đông nhân khẩu như thế thôi). Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không mấy khi có việc quan lại chỉ dựa vào một nguồn thu từ lương bổng, bao giờ ít nhất cũng có thêm một nguồn thu nữa, điển hình nhất là việc có nguồn thu từ canh tác nông nghiệp trên ruộng đất của gia đình, vậy nếu tính thêm khoản này thì các quan tối thiểu cũng đủ sống.

À mà bổ sung thêm, trong biên chép cụ còn kể, khi mới làm quan có nghe các huynh trưởng nhắc tới câu khẩu quyết nhập môn của nghề là “Thăng quan thượng kinh, phát tài hạ tỉnh” (Thăng quan lên kinh, phát tài xuống tỉnh). Nghĩa là nghề làm quan, nếu muốn nhanh thăng tiến thì nên nhậm chức trong kinh đô, làm kinh quan vì ở kinh đô ngay dưới chân thiên tử, hội tụ các cơ quan trung ương, quan chức lớn, tai mắt đều nhiều ; làm kinh quan dễ lọt được vào “mắt xanh” của cấp trên để từ đó thăng tiến. Còn nếu anh muốn kiếm cho đầy túi, thì nên xin bổ vào các chức quan ngoại nhiệm làm việc ở các tỉnh, vì như cụ Nam Cao nói “xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ“, làm quan ngoại nhiệm xa tầm kiểm soát của triều đình, có thể thẳng tay vơ vét.

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Nhữ Hiền (汝贤) là biểu tự của Hải Thụy (海瑞, 1515 – 1587), vị quan nổi tiếng thanh liêm, chính trực thời Minh.

[2] Ý bảo, trừ phi nhà ít con cái thì mới sống được với chút tiền lương đó, xưa người ta quan niệm nhà đông con cháu thì là nhiều phúc, ít con cháu là phúc mỏng.

[3] 8 miệng ăn : 1 chồng, 2 vợ, 5 đứa con ; 2 cái túi da hứng tiền : 1 tớ giai và 1 tớ gái.

[4] Tháng 3 ngày 8 : Ý nói là vào khoảng vụ giáp hạt, thường thời điểm đó ngày xưa gạo thu hoạch được của vụ cũ đã cạn, nhưng chưa đến vụ thu hoạch mới, nên hay xảy ra nạn đói.

[5] Đốc học, trật chánh ngũ phẩm.

[6] Lấy thêm vợ lẽ, nàng hầu.

[7] Đồng tri phủ (同知府), trong đó chữ Đồng (同) đọc lên cùng âm với Đồng (童) nghĩa là trẻ con. Bản thân chức Đồng tri phủ cũng không phải cao, nắm quyền cả một phủ như chức tri phủ trật ngũ phẩm, mà chỉ là ở dạng cấp phó.

Advertisements
Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: