Nhạc công qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Trong những môn đòi hỏi nhiều kỹ năng thì âm nhạc là thứ khó học nhất, không có thiên tư thì người học khó thành công ở lĩnh vực này. Thời Tam Quốc đã có nhiều thứ nhạc cụ khác nhau, nhưng thời gian trôi không ai có thể tìm hiểu rõ về chúng. Chỉ biết, huyền cầm xuất hiện ở Tân La, già da cầm ở Kim Quan, còn đại linh phỏng theo Đường địch. Tiếng đại linh khỏe khoắn và hùng tráng nên được xem là nhạc cụ căn bản. Hương tì bà cũng phỏng theo Đường tì bà, cách bố trí dây của hương tì bà tương tự huyền cầm. Với người học hương tì bà, cách chọn đàn, nghe tiếng và gảy đàn đều khá phức tạp ; hễ gảy không đúng cách thì sẽ không nghe được tiếng đàn. Quan điển nhạc Tống Thái Bình là người gảy hương tì bà rất giỏi, nhưng con ông là Tống Điền Thủ còn tài hoa hơn. Thuở nhỏ, tôi từng được thưởng tiếng hương tì bà của Điền Thủ ở nhà huynh trưởng tôi, tiếng đàn của ông nghe rất sướng tai khiến tôi tưởng được móng tay của bà tiên Ma Cô gãi ngứa cho vậy. Lúc ấy, tôi chỉ biết nghe mãi mà không chán. Tuy nhiên, tài năng của Tống Điền Thủ chưa thể sánh Đô Thiện Cát, sau Tống Điền Thủ chỉ có Đô Thiện Cát gảy hương tì bà ngang với Tống Thái Bình, ngoài ra không ai bì nổi. Nay không còn ai gảy hương tì bà giỏi cả.

Với Đường tì bà, Tống Điền Thủ được xem là đệ nhất danh thủ, và Đô Thiện Cát cũng được sánh ngang. Gần đây cũng có nhiều tay tì bà tài ba. Khi mới học nhạc, dù là bậc sĩ đại phu hoặc thứ dân đều phải tập tì bà trước. Tuy nhiên, không có người xuất chúng về tì bà, chỉ có Kim Thần Phiên học được tất cả các ngón đàn của Đô Thiện Cát. Kim Thần Phiên tính hào sảng và phóng túng, ông gảy điêu luyện hơn cả Đô Thiện Cát.

Huyền cầm là thứ đàn hay nhất trong mọi nhạc cụ, nó như cánh cửa đi vào âm nhạc. Có người mù tên Lý Ban gảy huyền cầm vang danh đến nỗi được vua Thế Tông triệu vào cung biểu diễn. Kim Tư Lệ cũng là người gảy huyền cầm rất cừ, nhưng tôi không học được cách gảy đàn của ông. Nếu so với những người gảy huyền cầm ngày nay thì không ai sánh được Kim Tư Lệ. Kim Đại Đinh, Lý Cá Trí, Quyền Mỹ, Trương Xuân đều là linh nhân cùng thời. Đương thời, các luận giả cho rằng : Đại Đinh thì giản nghiêm, Cá Trí thì yếu diệu, đều đạt đến tột đỉnh. Đại Đinh bị giết khi còn trẻ nên không ai còn được nghe tiếng đàn của ông. Quyền Mỹ và Trương Xuân đều là những tay đàn tầm thường. Chỉ Cá Trí được sĩ lâm ưu chuộng, nên đã hai lần ông được làm chức điển nhạc.

Tôi từng cùng Hi Lượng, Bá Nhân, Tử An, Sâm Trân, Nhi Nghị, Kỳ Thái, Trù Chi đến học nhạc ở thầy Cá Trí. Hàng ngày chúng tôi đến học nhạc với thầy, đôi khi ngủ lại nhà thầy, và chúng tôi đã rất quen tiếng huyền cầm của thầy. Nó dường không phát ra từ thanh gảy hay cách gảy, mà từ đáy huyền cầm. Khi nghe tiếng huyền cầm của Cá Trí, tôi lấy làm kinh sợ, quả là điêu luyện trác tuyệt. Sau khi thầy Cá Trí mất, tiếng đàn của thầy còn ở mãi thế gian. Nay trong các nữ bộc của nhà sĩ đại phu có nhiều người giỏi huyền cầm, họ đều học được di pháp của Cá Trí, nhưng không ai bì được đám tiện nhân mù lòa. Quan điển nhạc Kim Phúc và nhạc công Trịnh Ngọc Kinh đều giỏi đánh trống và được xem là danh thủ, kỹ nữ Thượng Lâm Xuân cũng được xem là xứng tầm với họ.

Già da cầm có Hoàng Quý Tồn rất thành thạo, nhưng tôi chưa từng được nghe tiếng đàn của ông. Ngoài ra, Kim Bốc Sơn cũng là tay già da cầm tài ba, đương thời ai cũng ưng phục không thể phủ nhận năng lực của ông. Gần đây có bà lão Chiêu Sử bị đuổi khỏi nhà Công Hậu. Tiếng đàn yếu diệu của bà lan truyền khắp nơi, không ai địch nổi. Nghe đồn, thầy Cá Trí cũng phải vuốt lại vạt áo và mất ăn ngủ vì tiếng đàn ấy.

Nay có người mù tên Trịnh Phàm giỏi già da cầm hơn tất thảy nhạc công mù và được nhiều người nhắc đến. Triều Thế Tông có các nhạc công Hứa Ngô Kế, Lý Thắng Liên, Từ Ích Thành. Thắng Liên được Thế Tổ biết tiếng nên từng được vua bái chức quân. Ích Thành lai vãng Nhật Bản và mất ở đó. Nay có Kim Đô Trí tuy đã ngoại bát tuần nhưng tiếng đàn vẫn chẳng suy, vậy ông được xem là cự phách về các thứ đàn dây. Trước có Kim Tiểu Tài cũng rất giỏi già da cầm và ông cũng mất ở Nhật Bản. Sau đó già da cầm bị phế tuyệt khá lâu, nay thánh thượng lưu ý việc dạy già da cầm nên có nhiều người thành thạo lắm.

音樂於諸技最難學。非有天資者。不能得其眞趣。三國各有音律樂器。然世代綿邈不可詳。惟今之玄琴。出於新羅。伽耶栞出於金官。大笒倣唐笛而爲之。其聲最壯。爲樂之根本。鄕琵琶亦倣唐琵琶。其設掛則與玄栞同。其調絃撚撥。學者難之。不善鼓則不堪也。有典樂宋太平善彈。其子田守傳得其法尤妙絶。余少時在伯氏家聽其聲。如麻姑爬癢。靡靡不厭。然比諸都善吉則不及也。然田守而下。惟善吉近之。其他則不可及也。今則無能之者。唐琵琶則田守亦爲第一手。善吉與之齊名。今之伶人多有能者。至如士庶。學樂必先琵琶。然無有拔萃者。惟金臣番盡得善吉指法。而豪縱過之。亦今之第一手也。玄琹於樂最善。學樂之門戶。有盲李班。遇知於世宗。出入禁中。有金自麗者。亦善鼓栞。余少時聽之。慕其音而不得指法。今若律以伶人之樂。則未免古態也。伶人金大丁李亇知權美張春皆一時人。當時論者云。大丁之簡嚴。亇知之要妙。各臻其極。大丁早誅未及聽。美春皆凡手。惟亇知爲士林所重。至紆聖眷。再爲典樂。余與希亮伯仁子安琛珍而毅耆蔡籌之。嘗往學焉。日日邀致。或時偕宿。聽之甚慣。其爲聲也。如從琴底出。無匙撥所行之跡。心神驚悚。眞絶藝也。亇知死後其音盛行於世。今士大夫家女僕。亦有能之者。皆得亇知遺法。無瞽矇鄙習。典樂金福樂工鄭玉京尤善鼓。爲當時第一手。有妓上林春。亦寢近之。伽耶栞則有黃貴存者善彈。余未及聽。又聽金卜山之彈。當時服膺而不能已。以今觀之。則亦太質直也。近有老女召史者。自公侯家謫出。始播其音於外。其音要妙。人無與敵。亇知斂袵自以爲不能及。今有鄭凡者。盲中之最善彈。膾炙於世大矣。世宗朝有許吾繼。有李勝連徐益成。勝連遇知於世祖。拜軍職。益成往日本而死。今有金都致。年過八十。而聲猶不衰。推爲巨擘牙箏。昔有金小材者能之。而亦死於日本。其後廢絶已久。今上留意敎之。能者相繼而出。

Advertisements
Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Điều hướng bài viết

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: