♥♥ Văn chương chí

文章志

Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.

Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.

Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.

Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…

Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…

Ngôi trường của những giai nhân

Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.

Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Viên Thị Thuận. Ảnh: Diệu Bình

Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.

Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.

Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942. Ảnh: Nguyễn Lân Bình cung cấp

Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…

Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.

Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.

Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.

Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.

Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.

Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.

Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Trang lưu bút bà Thuận viết cho người bạn học ở trường Đồng Khánh. Ảnh Nguyễn Lân Bình cung cấp

Theo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.

Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.

Giai nhân tiết lộ sự thật về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.

Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.

Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Thuận lần giở những bức ảnh cũ lưu trên ipad. Ảnh: Diệu Bình

Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.

Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.

Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.

Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.

Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.

Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…

Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Sứ (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Trước khi về lấy chồng, ngày chia tay các bạn, bà bịn rịn hồi lâu rồi đọc bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” để bày tỏ nỗi niềm của mình về một cuộc hôn nhân không có tình yêu.

Dù là cuộc hôn nhân qua mai mối nhưng dường như cuộc đời bà Sứ lại vô cùng hạnh phúc. Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | %(count) bình luận

Ông Vũ Sưởng


Trong năm Cảnh Hưng, hoàng thái tử bị phế, phải giam ở dinh viên nội thần Thiều quận công. Trúng thức Vũ Sưởng là chắt cụ thám hoa Vũ Thành, hậm hực đau đớn, bèn rủ họp bọn nghĩa sĩ mưu toan phản chính. Việc bại lộ, bị đem hành hình ở bến Đông. Những người thân thuộc và bạn bè đều phải nín hơi không dám đến thăm hỏi. Duy có giám sinh Nguyễn Liên người làng Bỉ Khê huyện Lương Tài đem rượu đến cùng ông Sưởng quyết biệt. Ông uống say, rồi làm bài thơ tặng Liên, có câu rằng : “Nhất thân tự nhậm cương thường trọng”. Nguyễn Liên lo việc tang chu tất.

Năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống, ông được truy tặng tước vương và đứa con nuôi tên Hiệu được phong quan, triều đình còn bàn lập đền để tinh biểu. Năm Kỷ Dậu đổi ngôi vua, Hiệu theo vua cũ sang Yên Kinh rồi mất ở đấy, có đứa tớ đem tin về.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viên Giác tự


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Viên Giác tự vốn là một khu đất rộng lớn. Ban đầu, ở đất ấy chỉ có đại điện và thiền đường ở phía Đông và phía Tây. Quán Tập đô giám nằm ở thiền đường phía Tây đại điện, còn Lễ Táng đô giám ở thiền đường phía Đông đại điện, phần đất chính Bắc đại điện là nơi tụ họp của các nho sinh. Tuy nhiên, vua Thế Tổ đã hạ lệnh dựng một ngôi chùa lớn trên đất ấy và đặt là Viên Giác tự. Ngân Xuyên quân và Ngọc Sơn quân được phong chức đề điệu kiêm đại tư hiến và luôn đượm vẻ oai nghiêm của bậc lão tướng. Bởi thế, họ luôn có lính hầu và kị sĩ thổi kèn đi trước, thường người ta kéo đi xem rất đông. Khi chùa mới xây xong, thánh thượng cho mở tiệc mừng và ngài có đi dạo mấy vòng quanh chùa. Lúc ấy có sự lạ xảy ra, từ đỉnh trời trút xuống một cơn mưa tứ hoa và có xá lị rải rắc nhiều mảnh, thế nên thánh thượng đã nhiều lần ân thăng cho các quan trong triều.

Sau ngày đó, trung bộ được chuyển về khu đất của Giá Các khố, Lễ Táng đô giám thì đặt ở Tùng Hiện hành lang và thuộc Quy Hậu thự, còn Quán Tập đô giám nhập với nhạc viện của Phụng Thường tự và đổi thành Nhạc Học đô giám, ít lâu sau Nhạc Học đô giám lại đổi thành Chưởng Nhạc viện. Khi Hồng Nhân Sơn nhậm chức đề điệu thì khu trung bộ đã trở nên chật chội mà người thì đông, nên nó được chuyển đến vùng đất bây giờ và nới rộng hơn. Tòa nhà lớn cùng quy mô hùng tráng ấy là nơi lý tưởng nhất trong tất cả cơ quan hành chính của triều đình bấy giờ và cũng là nơi thực tập lễ nghi của bá quan, đồng thời còn làm nơi mở các khoa thi để tuyển lựa hiền tài.

圓覺寺是古大寺之基。初有大殿及東西禪堂而已。慣習都監寓大殿西禪堂。禮葬都監寓東禪堂。大殿之北。爲中部儒生所會。世祖皆命毀撤。更創大伽藍。名曰圓覺。以銀川君玉山君爲提調。兼大司憲。常於路上用憲官之儀。所由二人呵辟。又令騎士吹簫角前導。士女坌集聚觀。寺成設慶讚會。上屢臨幸焉。有天雨四花舍利分枚之異。屢加百官級。其後中部移於架閣庫之基。禮葬都監。寓松峴行廓。屬歸厚署。慣習都監合於奉常寺之樂學。而名曰樂學都監。未幾改爲掌樂院。洪仁山爲提調。以其地狹人衆。移今之地而大創之。宏堂傑搆。甲於諸廨。爲百官習儀之所。又爲科場取士之處矣。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Bùi Thế Vinh


Cụ ngoại bảy đời của tôi là Bùi Thế Vinh, đỗ tiến sĩ khoảng năm Diên Thành, quan hàm Tự Khanh. Khi nhà Mạc mất ngôi thì ông lui về quê, rồi cùng ông Đỗ Uông làng Đoàn Tùng, ông Nhữ Công Tông làng Nhữ Xá đều được vời ra làm quan nữa, nhưng riêng ông Bùi Thế Vinh lấy dao con rạch đầu gối cáo bệnh không chịu ra. Nhân lúc ấy có bà Thường Quốc phu nhân tự thắt cổ tuẫn tiết. Hai người đều được khen ngợi, nhân có câu ngạn “Con dao Đông Luân, dây thừng phu nhân”.

Loài chi mày Thượng Thông, Thượng Nhữ,
Những dơ tuồng tặc tử gian thần.
Nào dao lá trúc Đông Luân,
Nào thừng tiết nghĩa phu nhân kia là.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hang núi


Hồi chinh phạt miền Nam, mấy người lính đi xuyên rừng thì gặp một cái hang. Vào xem, ban đầu thấy tối đen, nhưng sau rạng dần. Có thể trông rõ được hết, một chốc thấy trong đó có cư dân, tiếng nói ríu rít không sao hiểu nổi. Bọn lính đói quá phải cướp lấy miếng ăn, những người kia tan chạy như chim, nhưng lát sau họ tụ lại rất đông. Bọn lính sợ phải ra, dùng những tên nhọn vừa đi vừa bắn lại. Về thuật cho mọi người, lại kéo đến xem thì chẳng thấy gì cả.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đứa con đen


Người gái phố Lai Trào trấn Hoa Dương lấy người lái buôn nước tây đen. Sau người ấy về nước, nàng hỏi kỳ tái ngộ thì y nói : “Hễ ba năm không thấy sang thì cứ đi lấy chồng khác”.

Qua kỳ hạn thì nàng cải giá, làm bạn với người tên Mỗ, sinh được một đứa giai có da dẻ đen hệt chồng cũ. Toan vứt đi, hỏi có người biết mách cho : “Đấy là dư khí còn vương lại, nên rợ Hồ mới có tục rửa ruột. Không sao đâu !”.

Khi người lái buôn sang tìm vợ, thấy đứa con bèn kiện để đòi. Quan xử đứa con về người lái buôn, còn người vợ vẫn thuộc về Mỗ. Sau nàng sinh mấy đứa nữa, thì đều chẳng khác người thường.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhạc công qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Trong những môn đòi hỏi nhiều kỹ năng thì âm nhạc là thứ khó học nhất, không có thiên tư thì người học khó thành công ở lĩnh vực này. Thời Tam Quốc đã có nhiều thứ nhạc cụ khác nhau, nhưng thời gian trôi không ai có thể tìm hiểu rõ về chúng. Chỉ biết, huyền cầm xuất hiện ở Tân La, già da cầm ở Kim Quan, còn đại linh phỏng theo Đường địch. Tiếng đại linh khỏe khoắn và hùng tráng nên được xem là nhạc cụ căn bản. Hương tì bà cũng phỏng theo Đường tì bà, cách bố trí dây của hương tì bà tương tự huyền cầm. Với người học hương tì bà, cách chọn đàn, nghe tiếng và gảy đàn đều khá phức tạp ; hễ gảy không đúng cách thì sẽ không nghe được tiếng đàn. Quan điển nhạc Tống Thái Bình là người gảy hương tì bà rất giỏi, nhưng con ông là Tống Điền Thủ còn tài hoa hơn. Thuở nhỏ, tôi từng được thưởng tiếng hương tì bà của Điền Thủ ở nhà huynh trưởng tôi, tiếng đàn của ông nghe rất sướng tai khiến tôi tưởng được móng tay của bà tiên Ma Cô gãi ngứa cho vậy. Lúc ấy, tôi chỉ biết nghe mãi mà không chán. Tuy nhiên, tài năng của Tống Điền Thủ chưa thể sánh Đô Thiện Cát, sau Tống Điền Thủ chỉ có Đô Thiện Cát gảy hương tì bà ngang với Tống Thái Bình, ngoài ra không ai bì nổi. Nay không còn ai gảy hương tì bà giỏi cả.

Với Đường tì bà, Tống Điền Thủ được xem là đệ nhất danh thủ, và Đô Thiện Cát cũng được sánh ngang. Gần đây cũng có nhiều tay tì bà tài ba. Khi mới học nhạc, dù là bậc sĩ đại phu hoặc thứ dân đều phải tập tì bà trước. Tuy nhiên, không có người xuất chúng về tì bà, chỉ có Kim Thần Phiên học được tất cả các ngón đàn của Đô Thiện Cát. Kim Thần Phiên tính hào sảng và phóng túng, ông gảy điêu luyện hơn cả Đô Thiện Cát.

Huyền cầm là thứ đàn hay nhất trong mọi nhạc cụ, nó như cánh cửa đi vào âm nhạc. Có người mù tên Lý Ban gảy huyền cầm vang danh đến nỗi được vua Thế Tông triệu vào cung biểu diễn. Kim Tư Lệ cũng là người gảy huyền cầm rất cừ, nhưng tôi không học được cách gảy đàn của ông. Nếu so với những người gảy huyền cầm ngày nay thì không ai sánh được Kim Tư Lệ. Kim Đại Đinh, Lý Cá Trí, Quyền Mỹ, Trương Xuân đều là linh nhân cùng thời. Đương thời, các luận giả cho rằng : Đại Đinh thì giản nghiêm, Cá Trí thì yếu diệu, đều đạt đến tột đỉnh. Đại Đinh bị giết khi còn trẻ nên không ai còn được nghe tiếng đàn của ông. Quyền Mỹ và Trương Xuân đều là những tay đàn tầm thường. Chỉ Cá Trí được sĩ lâm ưu chuộng, nên đã hai lần ông được làm chức điển nhạc.

Tôi từng cùng Hi Lượng, Bá Nhân, Tử An, Sâm Trân, Nhi Nghị, Kỳ Thái, Trù Chi đến học nhạc ở thầy Cá Trí. Hàng ngày chúng tôi đến học nhạc với thầy, đôi khi ngủ lại nhà thầy, và chúng tôi đã rất quen tiếng huyền cầm của thầy. Nó dường không phát ra từ thanh gảy hay cách gảy, mà từ đáy huyền cầm. Khi nghe tiếng huyền cầm của Cá Trí, tôi lấy làm kinh sợ, quả là điêu luyện trác tuyệt. Sau khi thầy Cá Trí mất, tiếng đàn của thầy còn ở mãi thế gian. Nay trong các nữ bộc của nhà sĩ đại phu có nhiều người giỏi huyền cầm, họ đều học được di pháp của Cá Trí, nhưng không ai bì được đám tiện nhân mù lòa. Quan điển nhạc Kim Phúc và nhạc công Trịnh Ngọc Kinh đều giỏi đánh trống và được xem là danh thủ, kỹ nữ Thượng Lâm Xuân cũng được xem là xứng tầm với họ.

Già da cầm có Hoàng Quý Tồn rất thành thạo, nhưng tôi chưa từng được nghe tiếng đàn của ông. Ngoài ra, Kim Bốc Sơn cũng là tay già da cầm tài ba, đương thời ai cũng ưng phục không thể phủ nhận năng lực của ông. Gần đây có bà lão Chiêu Sử bị đuổi khỏi nhà Công Hậu. Tiếng đàn yếu diệu của bà lan truyền khắp nơi, không ai địch nổi. Nghe đồn, thầy Cá Trí cũng phải vuốt lại vạt áo và mất ăn ngủ vì tiếng đàn ấy.

Nay có người mù tên Trịnh Phàm giỏi già da cầm hơn tất thảy nhạc công mù và được nhiều người nhắc đến. Triều Thế Tông có các nhạc công Hứa Ngô Kế, Lý Thắng Liên, Từ Ích Thành. Thắng Liên được Thế Tổ biết tiếng nên từng được vua bái chức quân. Ích Thành lai vãng Nhật Bản và mất ở đó. Nay có Kim Đô Trí tuy đã ngoại bát tuần nhưng tiếng đàn vẫn chẳng suy, vậy ông được xem là cự phách về các thứ đàn dây. Trước có Kim Tiểu Tài cũng rất giỏi già da cầm và ông cũng mất ở Nhật Bản. Sau đó già da cầm bị phế tuyệt khá lâu, nay thánh thượng lưu ý việc dạy già da cầm nên có nhiều người thành thạo lắm.

音樂於諸技最難學。非有天資者。不能得其眞趣。三國各有音律樂器。然世代綿邈不可詳。惟今之玄琴。出於新羅。伽耶栞出於金官。大笒倣唐笛而爲之。其聲最壯。爲樂之根本。鄕琵琶亦倣唐琵琶。其設掛則與玄栞同。其調絃撚撥。學者難之。不善鼓則不堪也。有典樂宋太平善彈。其子田守傳得其法尤妙絶。余少時在伯氏家聽其聲。如麻姑爬癢。靡靡不厭。然比諸都善吉則不及也。然田守而下。惟善吉近之。其他則不可及也。今則無能之者。唐琵琶則田守亦爲第一手。善吉與之齊名。今之伶人多有能者。至如士庶。學樂必先琵琶。然無有拔萃者。惟金臣番盡得善吉指法。而豪縱過之。亦今之第一手也。玄琹於樂最善。學樂之門戶。有盲李班。遇知於世宗。出入禁中。有金自麗者。亦善鼓栞。余少時聽之。慕其音而不得指法。今若律以伶人之樂。則未免古態也。伶人金大丁李亇知權美張春皆一時人。當時論者云。大丁之簡嚴。亇知之要妙。各臻其極。大丁早誅未及聽。美春皆凡手。惟亇知爲士林所重。至紆聖眷。再爲典樂。余與希亮伯仁子安琛珍而毅耆蔡籌之。嘗往學焉。日日邀致。或時偕宿。聽之甚慣。其爲聲也。如從琴底出。無匙撥所行之跡。心神驚悚。眞絶藝也。亇知死後其音盛行於世。今士大夫家女僕。亦有能之者。皆得亇知遺法。無瞽矇鄙習。典樂金福樂工鄭玉京尤善鼓。爲當時第一手。有妓上林春。亦寢近之。伽耶栞則有黃貴存者善彈。余未及聽。又聽金卜山之彈。當時服膺而不能已。以今觀之。則亦太質直也。近有老女召史者。自公侯家謫出。始播其音於外。其音要妙。人無與敵。亇知斂袵自以爲不能及。今有鄭凡者。盲中之最善彈。膾炙於世大矣。世宗朝有許吾繼。有李勝連徐益成。勝連遇知於世祖。拜軍職。益成往日本而死。今有金都致。年過八十。而聲猶不衰。推爲巨擘牙箏。昔有金小材者能之。而亦死於日本。其後廢絶已久。今上留意敎之。能者相繼而出。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Đỗ Uông


Đời Mạc có ông Đỗ Uông người làng Đoàn Tùng, khi chưa đỗ, từ kinh về ngang huyện tôi. Trời đã tối, đường thì vắng tanh không có ai qua lại. Chợt trong đền Thì Cử có mấy chục quân kị kéo ra, đuổi theo sau ông.

Ông đi gấp, qua làng Hoạch Trạch thì gọi to : “Bác Hoạch Trạch ơi, cứu tôi với !”. Trong đền im lặng. Đến đền làng Minh Luân cũng gọi như vậy, thần đền đáp : “Em với bác Thì Cử sẵn tình cùng huyện, chẳng tiện ra giúp ông anh được. Ông anh nên cầu bác La Xá vậy”. Ông theo lời, đến La Xá quả có mấy trăm quân giáp trụ theo lời gọi mà xông ra, quân địch sợ phải lui.

Về làng Đoàn Tùng, ông đốt hương hành lễ giữa sân, biên một đạo sớ đem việc ấy tâu lên thượng đế. Sớ chưa đốt xong đã thấy giời nổi cơn sấm sét dữ dội, mưa xuống như dốc chĩnh nước. Đến sáng nghe đồn rằng, đền Thì Cử đã bị sét đánh tan hoang rồi. Ông mừng thầm.

Tự tin cậy, sau ông thi đỗ bảng nhãn, sang đời Lê quan làm đến thượng thư, sắc phong phúc thần.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Lê Anh Tuấn


Ông Lê Anh Tuấn khi cầm quyền chính trị nước, bà phu nhân từ làng Thanh Mai lên kinh, lúc ngang qua làng Đắc Sở thì ngủ trọ ở một nhà cạnh đền tướng quân Lý Phục Man. Nằm mơ thấy tiếng quân hầu dẹp đường, rồi có người nói là bà phu nhân của Lý tướng quân đến thăm. Khi ngồi chơi, Lý phu nhân nói : “Phu nhân với tôi là chỗ quen biết, muốn xin một điều, mong quý phu nhân y cho”. Bà xin vâng.

Lý phu nhân tiếp : “Nhờ phu nhân nói hộ với tướng công rằng, nhà cũ của chúng tôi đã nát lắm rồi, xin lưu ý cho”. Bà hỏi duyên cớ, Lý phu nhân bảo : “Ông Lê Anh Vũ triều trước và ông Lê Anh Tuấn bây giờ đều là hậu thân của tướng quân tôi, quý phu nhân quên rồi ư ?”. Lê phu nhân vâng lời rồi bừng tỉnh, đến kinh thuật lại cho ông nhà. Ông tự bỏ tiền ra tu sửa đền ấy, nay đền hãy còn.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bác nông phu ở Yên Mô


Ông Ninh lại kể tiếp truyện sau :

Cũng năm ấy, ở Yên Mô (một thôn nhỏ trong vùng) có một nông phu nghèo đói phải đi ăn xin ở bãi tha ma. Tối đến, cùng một bạn hành khất phải nằm ngủ trong một cái quán bỏ không ven đường cái. Đêm càng khuya thì bụng càng đói, trằn trọc mãi chẳng ngủ được, trông ra chỉ thấy bóng giăng mập mờ ngoài đường. Thình lình có xe ngựa kéo qua, đông như đàn cá nối đuôi, hai gã nhìn nhau hãi quá vội chui tuột xuống gậm, đu mình trên sàn mà nín thinh không dám thở. Một lúc nữa lại thấy trống chiêng cờ quạt rước một chiếc kiệu bát cống, đem đặt ở trước quán, rồi chiêng trống tạm yên, phu lính dừng chân. Trên kiệu có tiếng truyền xã lệnh ra hỏi, sĩ tốt dạ ran như sấm. Lâu sau, thấy một người đội mũ phốc đầu mặc áo thụng ra quỳ trước kiệu mà trình to rằng : “Thưa tôi là xã lệnh xin yết kiến”.

Bác nông phu nấp dưới sàn đánh mắt nhìn ra, thấy người đương quỳ ấy giống hệt pho tượng thành hoàng vẫn thờ ở đình làng. Trong kiệu hắt ra tiếng nói : “Sổ lính làm xong chưa ?”. Xã lệnh cúi đầu thưa : “Thôn tôi đã nhỏ còn nghèo, lại mới gặp họa loạn, dân tình chạy hết rồi, chưa được bao đứa về, nên chưa thể bắt đinh ngay được”. Từ kiệu lại có tiếng quát to : “Ta phụng mệnh đi điểm lính, có lệnh xuống đã lâu. Bay còn lựa lời quanh co nói khéo, thực đáng trị tội theo quân pháp”. Tức thì có mấy ông mặc triều phục đứng quanh kiệu quỳ xuống xin hộ rằng : “Vị thần này vốn tính minh mẫn, trung trực, đã được thượng đế để ý chọn lựa, hãy nên rộng tha cho”. Rồi lấy khuỷu tay huých viên xã lệnh bảo phải dâng sổ ngay. Xã lệnh bất đắc dĩ phải kể hai người trong thôn : Một là bác nông phu đương nấp trong quán, còn người nữa cũng là hạng nghèo khốn không nơi nương tựa ở làng. Sổ dâng lên, vị ngồi trong kiệu sai các thuộc chức kiểm nhận, rồi nổi trống kéo đi. Vừa hay, gà đã gáy sáng.

Bác nông phu sợ toát mồ hôi, cùng người bạn lúm khúm ở gậm sàn bò ra, nhưng cũng vui lòng vì nghe tin sắp được thoát nơi bể khổ, bèn đi gõ cửa các nhà trong thôn xin một bữa no say rồi chết, người trong thôn cũng sẵn lòng cho. Quả nhiên cách mấy hôm, bác ta ốm chết, và người cùng có tên trong sổ lính hôm ấy cũng chết.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: