♥♥ Văn chương chí

文章志

Những kinh thành qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Nước ta từng đặt kinh thành ở nhiều nơi. Kim Hải từng là kinh thành của Kim Quan quốc, Thượng Châu là kinh thành của Sa Đại quốc, Nam Nguyên của Đái Phương quốc, Giang Lăng của Lâm Doanh quốc, Xuân Xuyên của Uế Mạch quốc. Tất cả các kinh thành ấy đều tọa lạc những vùng đất nhỏ như làng ngày nay nên khó kể hết được.

Khánh Châu còn được gọi Đông Kinh, là kinh thành ngàn năm của Tân La quốc. Được bao bọc bởi núi sông điệp trùng, là nơi phì nhiêu, nhưng chỉ có vùng Giao Xuyên trồng cấy được, còn lại không màu mỡ gì. Bình Nhưỡng do Cơ Tử sáng lập cai trị bằng quy chế tỉnh điền với tám điều cấm còn lưu đến giờ, chỗ ấy nay là ngoại thành. Sau có Vệ Mãn từ Yên quốc chiếm được Bình Nhưỡng và lập làm kinh đô Cao Câu Ly quốc. Mạn Nam là Hán giang và mạn Bắc là Liêu hà, Cao Câu Ly là nước cường thịnh nhất bấy giờ với hàng vạn binh sĩ. Triều Cao Ly đã chọn nơi này làm Tây Kinh để lui tới du ngoạn vào mua xuân và mùa thu. Quốc gia cường thịnh như ngày nay cũng nhờ được hưởng di sản thời Cao Ly. Ở Vĩnh Minh tự có Kỳ Lân quật, Triều Thiên thạch và Cửu Thê cung của Đông Minh vương. Vĩnh Sùng Điện chính là Sùng Lạc cung, Trấn sơn ở Bình Nhưỡng chính là Cẩm Tú sơn, đỉnh núi cao nhất là Mục Đan Phong, nhưng dãy này gồm nhiều ngọn thấp nên không trang nghiêm như Chủ nhạc ở Tùng Đô và Hán Đô. Phía Bắc không có nguồn nước nên dịch bệnh từ Mông Cổ luôn tràn vào, phía Nam tuy sông ngòi dày đặc nhưng từng có Diệu Thanh cát cứ làm phản, đấy là thời gian khó của xã tắc. Cổng thành cao rộng, phía Đông có Đại Đồng và Trường Khánh môn, phía Nam có Hàm Cầu và Chánh Dương môn, phía Tây có Phổ Thông môn và phía Bắc có Thất Tinh môn. Trong tám đô thành chỉ có chốn này được gọi Đại Đô và có thể sánh với mọi kinh thành khác. Hướng về phía Đông chừng mươi dặm, dưới chân Cửu Long sơn có An Hạ cung nhưng không ai biết nó được dựng từ khi nào, có lẽ đây là mật cung.

Thành Xuyên là kinh đô của Tùng Nhưỡng quốc, Giang Đông xưa là Nhưỡng quốc, thế đất tuy nhỏ nhưng có nhiều sông núi. Long Cương sơn thành rất trang nghiêm, nay vẫn còn. Đây cũng gọi Long Quan quốc nhưng không hiểu sao người ta đặt thế. Phù Dư là kinh đô của Bách Tế, nay trong Thán Hiện còn vẹn nguyên vết tích của Bán Nguyệt thành. Bạch Mã giang từng được dùng làm chiến hào nhưng rất nhỏ hẹp không là nơi nương náu của đức vua được, nên ngài mới bị Tô Định Phương đánh giết. Toàn Châu từng có Chân Huyên cát cứ, nhưng chẳng bao lâu phải quy phục Cao Ly. Đến nay vẫn còn cố đô Cao Ly là Di Phong.

Thiết Nguyên là nơi Cung Duệ cát cứ và xưng Thái Phong quốc, nay còn dấu thành quách và bậc thang của các cung điện. Dịp xuân về, muôn hoa đua nở khiến cảnh nơi đây rất đẹp. Địa hình hiểm trở, sông ngòi thì đan dày. Đây cũng là nơi họ Vương đã định đô và trị quốc trong khoảng năm trăm năm. Cốc Phong là dãy núi xung yếu trải khắp vùng này, bao trọn đất Thiết Nguyên khiến chỉ vài mỏm núi nhỏ cũng thành khu biệt lập. Từ sau triều Cao Tông, kinh đô được dời đến Giang Hoa, nhưng đó là đảo nhỏ giữa bể khơi nên không xứng là quốc đô. Đức Thái Tổ ta khi khai quốc đã quyết ý dời đô, ban đầu ngài xem xét địa thế phía Nam của Kê Long sơn và định đặt đô ở đó, nhưng không lâu sau ngài dời về Hán Dương. Các thuật giả nói rằng : “Từ xưa đã có hòn Khổng Nham ở trước mặt, phía Tây lại có Tam Giác sơn và Nghênh Thự dịch, thật là thế đất đẹp”. Nhưng sau, tra xét kỹ lại phán rằng : “Toàn vùng Hán Dương đều là núi trổ ra ngoài, phía Nam của Bạch nhạc và phía Bắc của Mộc Mịch sơn mới thật đế vương vạn thặng”. Còn thiên hạ lại bảo rằng : “Tùng Kinh được bao quanh bởi sơn cốc nên có nhiều thần tử ương ngạnh. Chứ Tây Bắc của Hán Đô thì cao, phía Đông Nam lại mỏng mảnh, nên mới khinh trưởng chuộng thứ. Cho đến giờ, các vua kế nghiệp như Danh Công và Cự Hương đều là con thứ cả”.

我國設都邑處非一也。金海爲金官國。尙州爲沙代國。南原爲帶方國。江陵爲臨瀛國。春川爲穢貊國。皆彈丸之地。而各據其境。如今之小邑者不可勝數。慶州爲東京。新羅一千年所都。山川回互。土壤膏沃。惟蛟川一曲可遊。餘無奇勝之處。平壤箕子所都。八條爲治。井田之制歷歷猶存。今之外城是也。其後燕人衛滿所據。又爲高句麗所都。其國境南至漢江。北至遼河。擁兵數十萬。最爲强盛。高麗置爲西京。春秋往來。以爲巡遊之地。至今人物富庶。皆其餘風也。永明寺卽東明王九梯宮。麒麟窟朝天石在焉。永崇殿卽高麗長樂宮之基。都之鎭山曰錦繡山。最上峯曰牡丹峯。皆培塿非如松漢都主嶽之壯峻。北面無水。蒙兵得以長驅。南面帶江。妙淸據城而叛。其所恨也。城門究大。樓閣高亢。東有大同長慶兩門。南有含毬正陽兩門。西有普通門。北有七星門。八都之中。惟此都與大都相甲乙。東十里九龍山下有安下宮基。不知何代所造。疑是別宮也。成川爲松壤國。古江東爲壤國。雖地勢狹隘。而有山水之勝。龍岡山城最壯。至今屹然不頹。該稱龍官國。不知所據也。扶餘爲百濟所都。炭峴之內。半月城基猶宛然。雖以白馬爲塹。狹窄淺露。非王者之居。蘇定方得以滅之。全州爲甄萱所據。不久降于高麗。至今有古都遺風。鐵原爲弓裔所據。稱泰封國。至今有重城古基宮闕階級。春則花卉亂發。地危勢阻。而江河漕轉爲難也。惟松都爲王氏興王之地。五百年基業所固。鵠峯爲主嶽。支分股散。山勢周遭。雖培塿之微。皆作區域。水泉淸潔。坊坊曲曲。皆有可遊處。高宗以後。移入江華。此是海中小島。不可稱爲都邑也。我太祖開國。有移都之志。先相地于鷄龍山之南。已審京邑規模。未幾而止。更定鼎于漢陽。術者云。古有孔巖在前之語。三角山西迎曙驛坪。直爲美壤。後更相之。皆山外背走之勢。不如白岳之南木覓山之北。爲帝王萬乘之地。與天無極矣。諺傳。松京山谷環抱。有包藏之勢。故多權臣跋扈者。漢都西北高而東南下。故長子爲輕。支子爲重。至今大寶相承。名公鉅卿。率多支子也。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Con Tấm con Cám


Sau đây là nội dung truyện kể ở miền Nam ghi được tại Mỹ Tho năm 1886.

Có hai vợ chồng sinh hai cô Tấm và Cám, sinh đôi. Tấm được bố mẹ chăm nom chiều chuộng rất mực, còn Cám thì bị đối đãi như tôi đòi. Một hôm người cha cũng giao cho mỗi con một cái giỏ, bảo đi bắt cá, ai bắt được nhiều hơn thì được gọi bằng chị. Cám được nhiều hơn, nhưng Tấm bảo đưa giỏ cho mình giữ hộ để đi hái rau thơm về kho cá. Cám trở về thì bao nhiêu cá đã bị Tấm lấy mất chỉ còn một con bống mú. Do đó Tấm được làm chị. Cũng như truyện kể ở miền Bắc, Cám được thần hiện lên bày cho cách nuôi cá bống mú, nhưng nuôi được ít lâu cá cũng bị Tấm tìm cách bắt ăn thịt. Thần hiện lên bày cách bỏ xương cá vào hũ chôn xuống đất, sau sẽ được nhiều vật quý. Một con gà cũng mách cho Cám chỗ vùi xương bống. Sau ba tháng mười ngày, Cám đào lên quả được áo quần đẹp và một đôi giày. Một hôm Cám đem giày đi ra đồng bị ướt, phải đem phơi, bỗng một con quạ cắp mất một chiếc đem bỏ vào cung vua. Hoàng tử bắt được cho rao mời đàn bà con gái mọi nơi về thử, ai đi vừa sẽ lấy làm vợ. Tấm được bố mẹ cho ăn mặc đẹp trẩy kinh, còn Cám thì phải ngồi nhặt một mớ đậu và vừng trộn lẫn. Thần cho bồ câu đến giúp (có người kể con quạ lần trước tha giày đến bày cho Cám cách sàng để nhặt được nhanh). Sau đó Cám đến kinh thử giày, và trở thành vợ hoàng tử.

Một hôm, Cám nghe tin bố đau nặng bèn về thăm. Thật ra Cám bị lừa, dưới giường chỗ bố nằm có để nhiều tấm bánh đa nướng để khi trở mình nghe tiếng răng rắc. Cám tưởng bố gãy xương thương lắm, khóc rưng rức. Rồi Cám cởi áo trèo cau theo lời bố. Cây cau bị Tấm chặt gãy, Cám rơi vào hố nước sôi chết. Nhờ có mặt mũi giống Cám, Tấm mặc áo quần rồi vào cung mà không ai biết, kể cả hoàng tử, nhưng hoàng tử ngày một nguội lạnh với Tấm. Cám hóa thành chim quành quạch, và cũng như truyện kể ở miền Bắc, chim bay vào cung gặp Tấm đang giặt áo. Chim cũng nói câu “Phơi áo chồng tao…” và sau đó cũng được hoàng tử đem về nuôi ở lồng. Tấm cũng bắt chim ăn thịt và nói rằng mình có mang thèm ăn thịt chim. Chỗ vứt lông chim mọc lên một măng tre, sau đó bị Tấm chặt làm thức ăn. Vỏ măng hóa thành một cây thị chỉ có mỗi một quả, mỗi lần hoàng tử ở nhà thì cành lá xòa xuống thấp, nhưng khi đi vắng thì cây vươn lên cao vút, vì thế Tấm muốn hái thị ăn mà không được. Sau đó thị rơi vào bị một bà lão ăn mày. Tiên nữ trong quả thị cũng nhiều lần hiện ra giúp bà lão, sau cùng bà lão cũng rình bắt được, bèn xé nát vỏ thị.

Một hôm, Cám hóa phép làm cỗ bàn rất linh đình để dọn cúng chồng bà lão, nhưng lại ép nài bà đi mời hoàng tử tới dự. Hoàng tử đòi phải có thảm trải từ cung đến nhà mới chịu đi. Quả có thảm trải thật, lại có cả miếng trầu têm rất đẹp làm hoàng tử chú ý, hỏi thì bà lão nói dối là mình têm. Hoàng tử bảo bà thử têm cho mình xem. Cám hóa làm con ruồi vẽ cho bà cách têm, nhưng khi hoàng tử đuổi ruồi thì bà lão lại không têm được, đành phải thú thật là do con gái mình têm. Nhờ đó hoàng tử gặp lại vợ cũ.

Đoạn kết, cô Tấm hỏi Cám làm sao lại đẹp. Cám nói nhờ ngã vào hố nước sôi. Tấm nhảy vào nước sôi mà chết. Cám liền làm mắm gửi cho dì ghẻ, dì ghẻ cũng khen ngon, rồi cũng có con quạ đến mách và bị đuổi. Khi ăn gần hết, thấy đầu lâu con gái mẹ Tấm lăn ra chết.

Lê Quang Thanh Tâm

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.

Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.

Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.

Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…

Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…

Ngôi trường của những giai nhân

Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.

Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Viên Thị Thuận. Ảnh: Diệu Bình

Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.

Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.

Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942. Ảnh: Nguyễn Lân Bình cung cấp

Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…

Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.

Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.

Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.

Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.

Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.

Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.

Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Trang lưu bút bà Thuận viết cho người bạn học ở trường Đồng Khánh. Ảnh Nguyễn Lân Bình cung cấp

Theo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.

Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.

Giai nhân tiết lộ sự thật về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.

Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.

Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Thuận lần giở những bức ảnh cũ lưu trên ipad. Ảnh: Diệu Bình

Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.

Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.

Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.

Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.

Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.

Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…

Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Sứ (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Trước khi về lấy chồng, ngày chia tay các bạn, bà bịn rịn hồi lâu rồi đọc bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” để bày tỏ nỗi niềm của mình về một cuộc hôn nhân không có tình yêu.

Dù là cuộc hôn nhân qua mai mối nhưng dường như cuộc đời bà Sứ lại vô cùng hạnh phúc. Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | %(count) bình luận

Ông Vũ Sưởng


Trong năm Cảnh Hưng, hoàng thái tử bị phế, phải giam ở dinh viên nội thần Thiều quận công. Trúng thức Vũ Sưởng là chắt cụ thám hoa Vũ Thành, hậm hực đau đớn, bèn rủ họp bọn nghĩa sĩ mưu toan phản chính. Việc bại lộ, bị đem hành hình ở bến Đông. Những người thân thuộc và bạn bè đều phải nín hơi không dám đến thăm hỏi. Duy có giám sinh Nguyễn Liên người làng Bỉ Khê huyện Lương Tài đem rượu đến cùng ông Sưởng quyết biệt. Ông uống say, rồi làm bài thơ tặng Liên, có câu rằng : “Nhất thân tự nhậm cương thường trọng”. Nguyễn Liên lo việc tang chu tất.

Năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống, ông được truy tặng tước vương và đứa con nuôi tên Hiệu được phong quan, triều đình còn bàn lập đền để tinh biểu. Năm Kỷ Dậu đổi ngôi vua, Hiệu theo vua cũ sang Yên Kinh rồi mất ở đấy, có đứa tớ đem tin về.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viên Giác tự


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Viên Giác tự vốn là một khu đất rộng lớn. Ban đầu, ở đất ấy chỉ có đại điện và thiền đường ở phía Đông và phía Tây. Quán Tập đô giám nằm ở thiền đường phía Tây đại điện, còn Lễ Táng đô giám ở thiền đường phía Đông đại điện, phần đất chính Bắc đại điện là nơi tụ họp của các nho sinh. Tuy nhiên, vua Thế Tổ đã hạ lệnh dựng một ngôi chùa lớn trên đất ấy và đặt là Viên Giác tự. Ngân Xuyên quân và Ngọc Sơn quân được phong chức đề điệu kiêm đại tư hiến và luôn đượm vẻ oai nghiêm của bậc lão tướng. Bởi thế, họ luôn có lính hầu và kị sĩ thổi kèn đi trước, thường người ta kéo đi xem rất đông. Khi chùa mới xây xong, thánh thượng cho mở tiệc mừng và ngài có đi dạo mấy vòng quanh chùa. Lúc ấy có sự lạ xảy ra, từ đỉnh trời trút xuống một cơn mưa tứ hoa và có xá lị rải rắc nhiều mảnh, thế nên thánh thượng đã nhiều lần ân thăng cho các quan trong triều.

Sau ngày đó, trung bộ được chuyển về khu đất của Giá Các khố, Lễ Táng đô giám thì đặt ở Tùng Hiện hành lang và thuộc Quy Hậu thự, còn Quán Tập đô giám nhập với nhạc viện của Phụng Thường tự và đổi thành Nhạc Học đô giám, ít lâu sau Nhạc Học đô giám lại đổi thành Chưởng Nhạc viện. Khi Hồng Nhân Sơn nhậm chức đề điệu thì khu trung bộ đã trở nên chật chội mà người thì đông, nên nó được chuyển đến vùng đất bây giờ và nới rộng hơn. Tòa nhà lớn cùng quy mô hùng tráng ấy là nơi lý tưởng nhất trong tất cả cơ quan hành chính của triều đình bấy giờ và cũng là nơi thực tập lễ nghi của bá quan, đồng thời còn làm nơi mở các khoa thi để tuyển lựa hiền tài.

圓覺寺是古大寺之基。初有大殿及東西禪堂而已。慣習都監寓大殿西禪堂。禮葬都監寓東禪堂。大殿之北。爲中部儒生所會。世祖皆命毀撤。更創大伽藍。名曰圓覺。以銀川君玉山君爲提調。兼大司憲。常於路上用憲官之儀。所由二人呵辟。又令騎士吹簫角前導。士女坌集聚觀。寺成設慶讚會。上屢臨幸焉。有天雨四花舍利分枚之異。屢加百官級。其後中部移於架閣庫之基。禮葬都監。寓松峴行廓。屬歸厚署。慣習都監合於奉常寺之樂學。而名曰樂學都監。未幾改爲掌樂院。洪仁山爲提調。以其地狹人衆。移今之地而大創之。宏堂傑搆。甲於諸廨。爲百官習儀之所。又爲科場取士之處矣。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Bùi Thế Vinh


Cụ ngoại bảy đời của tôi là Bùi Thế Vinh, đỗ tiến sĩ khoảng năm Diên Thành, quan hàm Tự Khanh. Khi nhà Mạc mất ngôi thì ông lui về quê, rồi cùng ông Đỗ Uông làng Đoàn Tùng, ông Nhữ Công Tông làng Nhữ Xá đều được vời ra làm quan nữa, nhưng riêng ông Bùi Thế Vinh lấy dao con rạch đầu gối cáo bệnh không chịu ra. Nhân lúc ấy có bà Thường Quốc phu nhân tự thắt cổ tuẫn tiết. Hai người đều được khen ngợi, nhân có câu ngạn “Con dao Đông Luân, dây thừng phu nhân”.

Loài chi mày Thượng Thông, Thượng Nhữ,
Những dơ tuồng tặc tử gian thần.
Nào dao lá trúc Đông Luân,
Nào thừng tiết nghĩa phu nhân kia là.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hang núi


Hồi chinh phạt miền Nam, mấy người lính đi xuyên rừng thì gặp một cái hang. Vào xem, ban đầu thấy tối đen, nhưng sau rạng dần. Có thể trông rõ được hết, một chốc thấy trong đó có cư dân, tiếng nói ríu rít không sao hiểu nổi. Bọn lính đói quá phải cướp lấy miếng ăn, những người kia tan chạy như chim, nhưng lát sau họ tụ lại rất đông. Bọn lính sợ phải ra, dùng những tên nhọn vừa đi vừa bắn lại. Về thuật cho mọi người, lại kéo đến xem thì chẳng thấy gì cả.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đứa con đen


Người gái phố Lai Trào trấn Hoa Dương lấy người lái buôn nước tây đen. Sau người ấy về nước, nàng hỏi kỳ tái ngộ thì y nói : “Hễ ba năm không thấy sang thì cứ đi lấy chồng khác”.

Qua kỳ hạn thì nàng cải giá, làm bạn với người tên Mỗ, sinh được một đứa giai có da dẻ đen hệt chồng cũ. Toan vứt đi, hỏi có người biết mách cho : “Đấy là dư khí còn vương lại, nên rợ Hồ mới có tục rửa ruột. Không sao đâu !”.

Khi người lái buôn sang tìm vợ, thấy đứa con bèn kiện để đòi. Quan xử đứa con về người lái buôn, còn người vợ vẫn thuộc về Mỗ. Sau nàng sinh mấy đứa nữa, thì đều chẳng khác người thường.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhạc công qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Trong những môn đòi hỏi nhiều kỹ năng thì âm nhạc là thứ khó học nhất, không có thiên tư thì người học khó thành công ở lĩnh vực này. Thời Tam Quốc đã có nhiều thứ nhạc cụ khác nhau, nhưng thời gian trôi không ai có thể tìm hiểu rõ về chúng. Chỉ biết, huyền cầm xuất hiện ở Tân La, già da cầm ở Kim Quan, còn đại linh phỏng theo Đường địch. Tiếng đại linh khỏe khoắn và hùng tráng nên được xem là nhạc cụ căn bản. Hương tì bà cũng phỏng theo Đường tì bà, cách bố trí dây của hương tì bà tương tự huyền cầm. Với người học hương tì bà, cách chọn đàn, nghe tiếng và gảy đàn đều khá phức tạp ; hễ gảy không đúng cách thì sẽ không nghe được tiếng đàn. Quan điển nhạc Tống Thái Bình là người gảy hương tì bà rất giỏi, nhưng con ông là Tống Điền Thủ còn tài hoa hơn. Thuở nhỏ, tôi từng được thưởng tiếng hương tì bà của Điền Thủ ở nhà huynh trưởng tôi, tiếng đàn của ông nghe rất sướng tai khiến tôi tưởng được móng tay của bà tiên Ma Cô gãi ngứa cho vậy. Lúc ấy, tôi chỉ biết nghe mãi mà không chán. Tuy nhiên, tài năng của Tống Điền Thủ chưa thể sánh Đô Thiện Cát, sau Tống Điền Thủ chỉ có Đô Thiện Cát gảy hương tì bà ngang với Tống Thái Bình, ngoài ra không ai bì nổi. Nay không còn ai gảy hương tì bà giỏi cả.

Với Đường tì bà, Tống Điền Thủ được xem là đệ nhất danh thủ, và Đô Thiện Cát cũng được sánh ngang. Gần đây cũng có nhiều tay tì bà tài ba. Khi mới học nhạc, dù là bậc sĩ đại phu hoặc thứ dân đều phải tập tì bà trước. Tuy nhiên, không có người xuất chúng về tì bà, chỉ có Kim Thần Phiên học được tất cả các ngón đàn của Đô Thiện Cát. Kim Thần Phiên tính hào sảng và phóng túng, ông gảy điêu luyện hơn cả Đô Thiện Cát.

Huyền cầm là thứ đàn hay nhất trong mọi nhạc cụ, nó như cánh cửa đi vào âm nhạc. Có người mù tên Lý Ban gảy huyền cầm vang danh đến nỗi được vua Thế Tông triệu vào cung biểu diễn. Kim Tư Lệ cũng là người gảy huyền cầm rất cừ, nhưng tôi không học được cách gảy đàn của ông. Nếu so với những người gảy huyền cầm ngày nay thì không ai sánh được Kim Tư Lệ. Kim Đại Đinh, Lý Cá Trí, Quyền Mỹ, Trương Xuân đều là linh nhân cùng thời. Đương thời, các luận giả cho rằng : Đại Đinh thì giản nghiêm, Cá Trí thì yếu diệu, đều đạt đến tột đỉnh. Đại Đinh bị giết khi còn trẻ nên không ai còn được nghe tiếng đàn của ông. Quyền Mỹ và Trương Xuân đều là những tay đàn tầm thường. Chỉ Cá Trí được sĩ lâm ưu chuộng, nên đã hai lần ông được làm chức điển nhạc.

Tôi từng cùng Hi Lượng, Bá Nhân, Tử An, Sâm Trân, Nhi Nghị, Kỳ Thái, Trù Chi đến học nhạc ở thầy Cá Trí. Hàng ngày chúng tôi đến học nhạc với thầy, đôi khi ngủ lại nhà thầy, và chúng tôi đã rất quen tiếng huyền cầm của thầy. Nó dường không phát ra từ thanh gảy hay cách gảy, mà từ đáy huyền cầm. Khi nghe tiếng huyền cầm của Cá Trí, tôi lấy làm kinh sợ, quả là điêu luyện trác tuyệt. Sau khi thầy Cá Trí mất, tiếng đàn của thầy còn ở mãi thế gian. Nay trong các nữ bộc của nhà sĩ đại phu có nhiều người giỏi huyền cầm, họ đều học được di pháp của Cá Trí, nhưng không ai bì được đám tiện nhân mù lòa. Quan điển nhạc Kim Phúc và nhạc công Trịnh Ngọc Kinh đều giỏi đánh trống và được xem là danh thủ, kỹ nữ Thượng Lâm Xuân cũng được xem là xứng tầm với họ.

Già da cầm có Hoàng Quý Tồn rất thành thạo, nhưng tôi chưa từng được nghe tiếng đàn của ông. Ngoài ra, Kim Bốc Sơn cũng là tay già da cầm tài ba, đương thời ai cũng ưng phục không thể phủ nhận năng lực của ông. Gần đây có bà lão Chiêu Sử bị đuổi khỏi nhà Công Hậu. Tiếng đàn yếu diệu của bà lan truyền khắp nơi, không ai địch nổi. Nghe đồn, thầy Cá Trí cũng phải vuốt lại vạt áo và mất ăn ngủ vì tiếng đàn ấy.

Nay có người mù tên Trịnh Phàm giỏi già da cầm hơn tất thảy nhạc công mù và được nhiều người nhắc đến. Triều Thế Tông có các nhạc công Hứa Ngô Kế, Lý Thắng Liên, Từ Ích Thành. Thắng Liên được Thế Tổ biết tiếng nên từng được vua bái chức quân. Ích Thành lai vãng Nhật Bản và mất ở đó. Nay có Kim Đô Trí tuy đã ngoại bát tuần nhưng tiếng đàn vẫn chẳng suy, vậy ông được xem là cự phách về các thứ đàn dây. Trước có Kim Tiểu Tài cũng rất giỏi già da cầm và ông cũng mất ở Nhật Bản. Sau đó già da cầm bị phế tuyệt khá lâu, nay thánh thượng lưu ý việc dạy già da cầm nên có nhiều người thành thạo lắm.

音樂於諸技最難學。非有天資者。不能得其眞趣。三國各有音律樂器。然世代綿邈不可詳。惟今之玄琴。出於新羅。伽耶栞出於金官。大笒倣唐笛而爲之。其聲最壯。爲樂之根本。鄕琵琶亦倣唐琵琶。其設掛則與玄栞同。其調絃撚撥。學者難之。不善鼓則不堪也。有典樂宋太平善彈。其子田守傳得其法尤妙絶。余少時在伯氏家聽其聲。如麻姑爬癢。靡靡不厭。然比諸都善吉則不及也。然田守而下。惟善吉近之。其他則不可及也。今則無能之者。唐琵琶則田守亦爲第一手。善吉與之齊名。今之伶人多有能者。至如士庶。學樂必先琵琶。然無有拔萃者。惟金臣番盡得善吉指法。而豪縱過之。亦今之第一手也。玄琹於樂最善。學樂之門戶。有盲李班。遇知於世宗。出入禁中。有金自麗者。亦善鼓栞。余少時聽之。慕其音而不得指法。今若律以伶人之樂。則未免古態也。伶人金大丁李亇知權美張春皆一時人。當時論者云。大丁之簡嚴。亇知之要妙。各臻其極。大丁早誅未及聽。美春皆凡手。惟亇知爲士林所重。至紆聖眷。再爲典樂。余與希亮伯仁子安琛珍而毅耆蔡籌之。嘗往學焉。日日邀致。或時偕宿。聽之甚慣。其爲聲也。如從琴底出。無匙撥所行之跡。心神驚悚。眞絶藝也。亇知死後其音盛行於世。今士大夫家女僕。亦有能之者。皆得亇知遺法。無瞽矇鄙習。典樂金福樂工鄭玉京尤善鼓。爲當時第一手。有妓上林春。亦寢近之。伽耶栞則有黃貴存者善彈。余未及聽。又聽金卜山之彈。當時服膺而不能已。以今觀之。則亦太質直也。近有老女召史者。自公侯家謫出。始播其音於外。其音要妙。人無與敵。亇知斂袵自以爲不能及。今有鄭凡者。盲中之最善彈。膾炙於世大矣。世宗朝有許吾繼。有李勝連徐益成。勝連遇知於世祖。拜軍職。益成往日本而死。今有金都致。年過八十。而聲猶不衰。推爲巨擘牙箏。昔有金小材者能之。而亦死於日本。其後廢絶已久。今上留意敎之。能者相繼而出。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Đỗ Uông


Đời Mạc có ông Đỗ Uông người làng Đoàn Tùng, khi chưa đỗ, từ kinh về ngang huyện tôi. Trời đã tối, đường thì vắng tanh không có ai qua lại. Chợt trong đền Thì Cử có mấy chục quân kị kéo ra, đuổi theo sau ông.

Ông đi gấp, qua làng Hoạch Trạch thì gọi to : “Bác Hoạch Trạch ơi, cứu tôi với !”. Trong đền im lặng. Đến đền làng Minh Luân cũng gọi như vậy, thần đền đáp : “Em với bác Thì Cử sẵn tình cùng huyện, chẳng tiện ra giúp ông anh được. Ông anh nên cầu bác La Xá vậy”. Ông theo lời, đến La Xá quả có mấy trăm quân giáp trụ theo lời gọi mà xông ra, quân địch sợ phải lui.

Về làng Đoàn Tùng, ông đốt hương hành lễ giữa sân, biên một đạo sớ đem việc ấy tâu lên thượng đế. Sớ chưa đốt xong đã thấy giời nổi cơn sấm sét dữ dội, mưa xuống như dốc chĩnh nước. Đến sáng nghe đồn rằng, đền Thì Cử đã bị sét đánh tan hoang rồi. Ông mừng thầm.

Tự tin cậy, sau ông thi đỗ bảng nhãn, sang đời Lê quan làm đến thượng thư, sắc phong phúc thần.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: