♥♥ Văn chương chí

文章志

Viet comics


Viet comics (Tranh-truyện Việt-nam) is a term which was created by Floral Age Bimonthly about 1960s. Some times it was unpopularly called mạn họa (漫畫) like some Eastern Asian comics[1].

History

Pre-1900

During the Medieval Annam, “Viet comics” often be called mạn họa (漫畫) or liên-hoàn họa (連環畫, sequential drawings) which was affected by China and sometimes India[2]. They illustrated philosophy or tales which were printed by wood-blocks[3]. There were some drawings for the educating females which were called “moral books” (Luân-lý giáo-khoa thư).

French Indochina (1900 – 1953)

Lý-Toét and the Chief Justice on Customs&Mores Weekly.

Madame Nguyễn Minh Mỹ – An artist who made paintings of children.

After the establishing of the Fédération indochinoise with a long peace, the printing technology developed strongly to make books and newspapers became more. “Viet comics” has appeared gradually as cartoons which was called hoạt kê họa (滑稽畫), hí họa (戲畫) or biếm họa (貶畫).

About 1930s when Europeanisation movement was, “Viet comics” becamed an independent art with the big amount of artists and readers. Customs&Mores Weekly (Phong-Hóa tuần-báo) and Today Weekly (Ngày-Nay tuần-báo) had known with three comic characters Bang Bạnh – Xã Xệ – Lý Toét, Official’s Son Weekly (Cậu-Ấm tuần-báo) with the Three adventurous kids (Ba đứa trẻ mạo-hiểm), Drake Weekly (Vịt-Đực tuần-báo) with sequential drawings what often satirized Annamese writers, Indochinese government, especially the Governors-General… “Viet comics” always be called chuyện bằng tranh (stories by drawings).

After WWII, there were comics what asked Vietnamese people against French Army and satirized French Government. In Hanoi and Saigonthere were more comics what based on romance novels or knight tales. Besides, there were some comics with the topic of Vietnamesehistory and mythology.

Northern and Southern Vietnam (1954 – 1975)

ViVi and his career on the article of Floral Age Bimonthly.

From the late 1960s, comics flourished in the Republic of Vietnam by the Freedom of the Press. Firstly, the Floral Age Bimonthly (established in 1962) called “Viet comics” as Tranh-truyện Việt-nam (Vietnamese pictorial-stories).

These led to an increase in the number of comic artists. The most famous illustrator and comic artist at the time was Võ Hùng Kiệt and he was also an illustrator for stamps. His comics were much loved by children and even women. Topics often as : Familyfriendshipadventuredetectivescience fictionwuxiafairytales… which was affected by French comicsAmerican and Hollywood, even Jin Yong‘s works.

In the Democratic Republic of Vietnamcomics usually appeared on Pioneer Magazine, Children Magazine and Kim-Đồng books. Their contents were about familyfriendshipmoralwarfairytales… Northern artists’ style always be affected by Soviet art.

Era of Subsidy (1976 – 1985)

After the Reunification Day, Viet comics’ style was more and more un-diversity because the print has been difficult. However, in 1980s there were some Kim-Đồng‘s artists who started drawed in dó paper because they were very cheap. Topics often be fairytales and war for avoiding the censorship.

Era of Reform (1986 – 2006)

Viet comics have changed much since 1987 as they steadily developed though the years and gradually became similar to American comicswith a growing number of comic artists and comic genres. Meanwhile, in response to the needs of children, the government attached special importance in encouraging the creation of comics. The most famous artist was Nguyễn Hùng Lân whose comics were popularly read (Hero HesmanVietnamese supermenVietnamese fairytales…). The content of these publications was broadly educational and offered lessons in moral philosophy for the reader. Many artists often “borrowed” international comics and animated films for imitating, as : Well just you waitSupermanJurassic parkTom and JerryCharlot

Everything was to change in 1992 with the import of manga by Kim-Đồng and Youth. Since 1995 when the manga storm would really hit, suddenly Viet comics with educational and moral stories were overwhelmed and dull by comparison. Manga was able to engage with a broad readership and was readily available ; it saturated the market even though most was then illegally printed. That changed in 2004 when Vietnam finally signed an expanded version of the Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works, and copyright was discussed and respected. The management of sales and content of manga has since become strictly controlled.

Era of Recession (2007 to now)

Despite the “invasion” (called by 2000s Vietnames newspapers) of mangamanhwamanhua fighting for a place in the Vietnamese market, 4 the rise of comics in a Vietnamese style was slow to gain pace given lingering prejudices, the feeling that comics were for children. Yet gradually, Vietnamese artists started to produce comics. In 2002, the Phan Thị Company published the comic series titled Vietnamese child prodigies (Thần-đồng đất Việt) and this was a turning point in Viet comics. It attracted many young readers and became a long-selling comic with more than 120 volumes produced. The comic might be considered similar to manga in panel layout and onomatopoeia (the formation of a word from a sound associated with what is named), and the style in which characters are drawn[5].

Moreover, Youth Laughs Monthly, Hoa Học Trò Weekly and Truyện Tranh Trẻ Magazine (Youth Publishing House) also worked positively. They called Viet comics as mạn họa for dream about the comics compared mangamanhwamanhua[6].

References

 

Advertisements
Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vỡ vào chuông giáo đường


Những năm đất nước còn chia cắt. Từ rất sớm miền Bắc đã chăm chú lắng nghe những tiếng vọng xa xôi của văn chương ở các đô thị, thành phố phương Nam. Cuốn thông báo khoa học của Đại học tổng hợp Hà Nội, in năm 1961 – 1962, giới thiệu những khuynh hướng văn học miền Nam đã nói đến Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền. In ở Sài Gòn 1956. Thời gian đã ố vàng trên từng trang sách. Gọi nhớ nhiều kỷ niệm khó quên. Mùa xuân năm 1970 và trước đó. Sinh viên văn khoa đã được nghe hệ thống các chuyên đề của Thầy Hồ Tấn Trai về văn chương miền Nam. Vốn người Thừa Thiên Huế. Trước cách mạng tháng 8-1945, thầy Trai dạy học tư ở Đà Lạt. Thời 1946 – 1947 từng là trưởng ty tuyên truyền của ta ở tỉnh Biên Hòa. Những năm 70, tóc thầy đã bạc sớm, thường trải ngôi ở giữa ngay ngắn. Mùa thu luôn luôn thấy thầy  diện chiếc áo  vest khaki màu trắng ngà. Không hiểu vì sao học trò lại rung cảm với Phục sinh của Thanh Tâm Tuyền. Có lẽ do giọng Huế của thầy nhẹ nhàng mà lại trầm buồn nữa. Thỉnh thoảng còn thêm tiếp đầu ngữ “Cho nên chi… cho nên chi” thật dễ thương. Với hoàn cảnh lịch sử thời “hai phe, bốn mâu thuẫn”, 2 dòng trong – đục trong văn chương mà Thanh Tâm Tuyền ở bên dòng đục, vậy mà sao sau khi gạt đi những từ ngữ vay mượn của chủ nghĩa hiện sinh, lời thơ Phục sinh thật trong sáng qua giọng đọc ngọt ngào xứ Huế; Dường như đã gặp cái ánh nắng trong lành và tiếng chuông yên bình ấy ở đâu đây trên xứ sở của mình mà tôi không nhớ được ra.

Ngoài phố nắng thủy tinh
Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi.

Không ai nói cho thầy Trai hay cái kết quả vô thức ấy.

Đã hơn nửa thế kỷ qua. Hiện tượng thi ca Thanh Tâm Tuyền vẫn còn là ẩn số với những ý kiến đối lập nhau từ hồi 1956 đến nay. Ngay như ông Võ Phiến- Một nhà văn nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 cũng coi nhẹ thơ Thanh Tâm Tuyền, mà hậu duệ của nhà văn  họ Võ mới đây gọi là một thứ hàng nhái cực mốt hồi cuối thập niên 1950. Không phải không có ý kiến còn cho là Thanh Tâm Tuyền làm thơ bằng tiếng Pháp rồi dịch sang tiếng… An Nam; Là đứa con ngoài giá thú của chủ nghĩa hiện sinh. Ngược lại, có người không ngần ngại coi Thanh Tâm Tuyền là thi sỹ tiên phong tiêu biểu cho cách tân thi ca Việt Nam lần thứ 2 sau Phong trào Thơ Mới 1930 – 1945. Còn thi ca ở miền Bắc chỉ là sự lặp lại thơ của phong trào ấy mà thôi. Số phận của thi nhân vẫn nằm giữa hai dòng nước chảy xiết ấy.

Không nghi ngờ gì nữa, cuộc cách mạng thơ ca lớn nhất thế kỷ 20 đã xảy ra hồi 1930 – 1945 mang tên gọi Phong trào Thơ Mới đã đưa thi ca Việt Nam có diện mạo khác, thậm chí so với cả 9 thế kỷ trước đó. Nửa sau thế kỷ 20, bắt đầu từ 1945, đã xuất hiện những hướng đi hứng khởi cho cuộc cách tân. Điều đáng lưu ý là nó không phải xuất phát và bị thúc đẩy bởi các lý thuyết và chủ nghĩa trong sáng tạo thi ca từ nước ngoài mà chính từ hiện thực cuộc sống của dân tộc đã cổ vũ và thổi vào hồn thi sỹ những giai điệu  bắt nhịp cho thi ca. Năm 1948 – năm vô cùng gian lao của cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm cầm cự và phòng ngự trên chiến trường đánh giặc. Vậy mà đó lại là mốc thời gian một loạt các thi sỹ bước lên diễn đàn thi ca với cảm hứng bi hùng và nhịp điệu thơ tự do dài ngắn linh động, dẽ dàng chưa từng thấy trong thơ 1930 – 1945. Tây Tiến của Quang Dũng. Nhớ của Hồng Nguyên. Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm. Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông…. Và trước đó 1946 – 1947 là Nhớ Máu- Tình Sông Núi của Trần Mai Ninh. Đèo cả của Hữu Loan… Đến 1949, Nguyễn Đình Thi táo bạo với những sáng tác về thơ tự do, thơ không vần… Cuộc tranh luận quyết liệt giữa các thi nhân về đổi mới thi ca đã diễn ra dưới những cánh rừng già Việt Bắc. Không phải ở các salon văn học sang trọng trong thành phố sáng đèn. Nó diễn ra trong chiến hào đánh giặc đầy máu lửa và trong hoàn cảnh đội quân vệ quốc đoàn – Vệ túm áo rách dầm sương của cách mạng đang bị địch bao vây. Nói như thế để thấy hồn thơ ấy đẹp biết chừng nào.

Trường hợp của Thanh Tâm Tuyền có khác. Ông mong muốn cách tân thi ca từ lý thuyết hơn là từ thực tiến đời sống. Chủ nghĩa hiện sinh thúc giục ông từ bỏ lối viết cũ để tiến đến một phương thức mới của sáng tạo thi ca. Mặc dù Thanh Tâm Tuyền viết Nỗi buồn trong thơ hôm nay như là một tuyên ngôn thơ cho bản thân mình lại có nội dung cỗi lõi nhất là thi ca cần rời bỏ những tháp ngà nghệ thuật để đi vào đời sống hàng ngày. Nói theo cách nói của ông, thơ là phương tiện để gặp được cái hiện tại tầm thường. Ông kêu gọi những bậc tiền nhân hãy nhường cho mình hiện tại. Mặc dầu vào thời điểm đó chủ nghĩa hiện sinh đang rất thịnh hành ở phương Tây, đặc biệt là ở Pháp. Nhưng Thanh Tâm Tuyền chưa hẳn đã nẩy đom đóm mắt muốn nguyền rủa quá khứ và công đầu của ông cũng không đến nỗi biến nàng thơ thành… Prostitute như một nhà phê bình danh tiếng đã viết. Nặng nề quá. Một người có tâm địa như thế thì làm sao mà viết được thơ, theo ý nghĩa đơn giản nhất của từ đó.

Thanh Tâm Tuyền có ba tập thơ. Tôi không còn cô độc. 1956. Liên – Đêm – Mặt trời tìm thấy. 1964. Thơ ở đâu xa. Xuất bản ở Mỹ năm 1990. Trong số này Tôi không còn cô độc viết năm thi sĩ mới vừa tròn 20 tuổi là đáng kể hơn cả vì nó tập trung những phẩm chất sáng tạo cũng như định vị Thanh Tâm Tuyền như một trong những người đầu tiên đột phá khẩu việc làm mới thơ Miền Nam những năm cuối cùng của 1950 ở hai phương diện. Một là. Nỗi buồn trong thơ hôm nay Thanh Tâm Tuyền nói rõ chủ ý: Thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể. Thơ hôm nay là thơ tự do. Độ dài ngắn của câu thơ khác nhau. Không câu nệ về vần. Nhịp điệu thơ thực hiện theo phương thức mới. Thanh Tâm Tuyền quan niệm nhịp điệu của thơ tự do là nhịp điệu của ý thức được kết thành từ nhịp điệu của hình ảnh và nhịp điệu của ý tưởng. Quá trình kết hợp ấy là tự do vươn tới sự thống nhất trong khi phải trải qua sự chia xé mãnh liệt.

Thứ hai là. Cảm xúc và hình tượng thơ phi lý và siêu thực được coi là phương tiện đặc trưng nhất của thi ca. Thanh Tâm Tuyền muốn làm một người hèn mọn kiêu hãnh để gặp được hiện tại tầm thường, trong con mắt nửa tỉnh nửa ngái ngủ để thấy sự vật hiện hình lên những hình thù quái đản. Đó là một kiểu Hàn Mặc Tử không phải trong Mùa xuân chín hay Đây Thôn Vỹ Dạ mà là đi dưới ánh trăng tàn úa không phải trên Thượng thanh khí mà ở dưới trần gian. Những bài thơ hay nhất của Thanh Tâm Tuyền gửi lại cho chúng ta ngày nay cũng thể hiện phẩm chất thi sỹ thành công nhất trên hai phương diện ấy. Ở đây tôi là vị Hoàng đế. Chim. Định nghĩa một bài thơ hay. Hoa. Mắt biếc. Mặt trời. Phiên khúc 20. Phục sinh. Về Quách Thoại. Với hai phương diện ấy, thơ Thanh Tâm Tuyền đã đưa tới một tiếng nói khác biệt cho thi ca. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế ở Thanh Tâm Tuyền không ít bài thơ, câu thơ khó hiểu hơn cả thơ dịch. Đặc biệt hầu hết những bài thơ văn xuôi dài đều trúc trắc và đôi khi luẩn quẩn. Nhưng nếu chỉ có thế thôi đã không có một Thanh Tâm Tuyền như là một số ít tiêu biểu của thi đàn miền Nam trước 1975.

Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ đầu tiên Thanh Tâm Tuyền giành nhiều tâm nguyện cho việc phát biểu quan niệm sáng tác. Không ở đâu như ở đây, Thanh Tâm Tuyền đã bộc lộ những mâu thuẫn giằng xé tưởng như không bao giờ dứt. Định nghĩa một bài thơ hay, Thanh Tâm Tuyền viết.

Hãy đánh rơi vào buổi chiều của trời
Một cuộc đời tròn như hạt cốm
Mùa thứ ba trong năm nhỏ sữa
May mắn như bài thơ gồm những âm trắc đồng tình.

Giá như ông dừng lại ở đây thì đẹp biết bao nhiêu. Vậy mà qua vài dòng ông lại viết.

Một câu thơ hay tự nhiên như lời nói
Một bài thơ hay là cái chết cuối cùng

Câu thứ nhất thật đúng. Câu thứ 2 có cần thiết phải kết cục như thế hay không? – Tôi nghĩ là không. Không nhất thiết như thế. Thi sỹ đã tự mâu thuẫn với bản thân mình không chỉ trong 2 dòng thơ mà suốt cả chiều dài Tôi không còn cô độc. Cũng như không phải một lần Thanh Tâm Tuyền muốn trở về với truyền thống, về với những câu lục bát rưng rưng cuối đường. Tự nhủ mình phải viết những lời thơ thật tự nhiên và nhất quyết một con đường.

Không đa đa siêu thực
Thẳng thắn
Khởi từ ca dao sang tự do.

Bài Mưa ngủ, có lẽ là một trong số ít bài thơ văn xuôi hay của Thanh Tâm  Tuyền. Mưa như nói hộ lòng yêu thương quê hương xứ sở. Khi mưa bên kia sông mưa nửa dòng nước để thi sỹ đưa em về bên ấy chân đê hoa cỏ hoang dại, những chuyến đi xa của đời ta theo mưa về ngủ trên mái rạ, đêm hiền lành như dâng lên từ cửa bể bến sông, giọt mưa đẹp như mắt ngủ, Thanh Tâm Tuyền đã hai lần nói về ước nguyện Hồn nhiên tôi trở thành thi sỹ ca dao. Nhưng thi sỹ đã tự mâu thuẫn với mình và đã không làm như vậy. Cái chất siêu thực và huyễn hoặc ẩn chứa trong nhiều dòng thơ tự do đã níu kéo ông trở lại. Thế giới nội tâm của Thanh Tâm Tuyền như mưa trên hai bờ của một dòng sông để Tâm hồn là cánh đồng chưa khai phá. Thơ ông trên bờ sương khói của siêu thực, ngả mình vào những cảm xúc phi lý suốt 20 năm một đời thơ (1955- 1975). Kỳ lạ thay, đến khi ông nằm trong trại cải tạo, dường như chỉ khi ấy ông mới thực sự chạm đến những đắng cay nhất để hiểu rằng cuộc đời không còn khoảng trống nào để viển vông được nữa. Khi ấy ông mới thực sự bước vào lĩnh vực đời thường mà buổi đầu tiên cầm bút làm thơ ông đã ước mơ. Một thi sỹ ca dao từng nắc nỏm trong thơ thuở trước. Tiếc thay. Bản năng sáng tạo của người thi sỹ khi ấy đã nhạt nhòa đi quá nhiều. Thanh Tâm Tuyền trong Thơ ở đâu xa trang trải với cuộc đời bình dị. Chiều cuối năm lũ trẻ mặt lem luốc co ro đứng xem đoàn tù nhân qua thôn hay cảnh cô sơn nữ áo hồng đi bừa với con trâu trắng mà ngỡ như Nhạn lai hồng lạc cuối thôn… Thơ ở đâu xa mặc dù có rất nhiều mùa xuân, rất nhiều ánh nắng mà sao tôi thấy câu thơ nôm na quá chừng. Những bước đi cuối cùng không còn xuân sắc như một thi nhân. Thế giới nội tâm trong quan niệm sáng tác của Thanh Tâm Tuyền là một khối mâu thuẫn lớn. Khi ông tuyên bố thơ ông không hề có tình yêu – cái báu vật mà ông hằng mơ ước. Vậy mà chữ yêu dường như hiện lên ở tất cả các dòng thơ. Thanh Tâm Tuyền  bảo xin đừng gọi ông là thi sỹ. Vậy mà cả cuộc đời con người ấy lại chỉ sống chết với thơ mà thôi. Ít nhất cũng là ở cái phần tâm linh nhất.

Thi nhân tự nhận mình là Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường về quá khứ hay như chim bay vào trận mưa sao. Người bộ hành ấy đi mãi vào bóng đêm mà chưa ra khỏi được thế giới cô độc của bản thân mình. Có người nói: Cái tôi trong Thơ mới 1930-1945 là cái tôi đối diện và đúng hơn là đối đầu với thực tại. Còn ở Thanh Tâm Tuyền không có sự đối đầu ấy nữa mà lơ lửng giữa cái tôi và thực tại. Tôi không thấy sự khác nhau ấy. Bởi vì chính ông ấy đã từng nói người làm thơ hôm nay chỉ là tên ăn mày giữa đám đông mà thôi. Thơ Thanh Tâm Tuyền và Thơ mới 1930-1945 đều cùng phát triển theo một tuyến lấy cái tôi cô đơn như là một nét chủ đạo nhất của cảm xúc và hình tượng thơ. Nỗi cô đơn, cô độc là chủ thể trữ tình luôn choán chỗ cả một đời thơ Thanh Tâm Tuyền. Như một hồn lang thang không gặp được bóng mình. Có lúc bức bối. Ta đập tan hình hài và thức giấc. Bài thơ về Quách Thoại ở cuối tập Liên-Đêm-Mặt trời tìm thấy – 1964 lại cho thấy chẳng có mặt trời nào tìm thấy cả. Vẫn chỉ là lang thang cô độc của thân phận thi nhân.

Tôi bé nhỏ và tôi than thở
Những vì sao rụng bỗng đầy lề nhân gian
Người thi sỹ bay vào miền đất lạ
Không nhớ mảy may biển gió cát muôn trùng
Ở đây tôi còn mở mắt
Dìu linh hồn lang thang

Không có mặt trời tìm thấy, chỉ là những vì sao rơi rụng đầy lề nhân gian. Năm 1956 bài Mặt trời, Thanh Tâm Tuyền cho là Câu chuyện mặt trời hoang đường như đôi mắt tình nhân. Năm 1964, bài thơ văn xuôi Mặt trời tìm thấy còn loang lổ sự hoang đường thủa trước buổi sớm còn ánh trăng, đêm thành phố đã tắt thi nhân không biết nơi hẹn hò là nơi nào. Những chùm lá hiện lên mùa đông trong thành phố không quá khứ.

Những vần thơ mang đậm mầu sắc siêu thực hay nhất của Thanh Tâm Tuyền là nói về cô đơn. Thi sỹ không chuyển cô đơn lên bầu trời mà vục mặt vào cô đơn. Giữa màn sương khói ấy, tình yêu xứ sở có lần hiện lên thật giản dị. Như một chỗ trên xe buýt mà thôi.

Mỗi ngày chúng ta đứng bên nhau không quen nhau
Thân mật ngó lên mái tóc rối nền trời khuya
Ngó vào mắt hoang xa dòng sông không bờ
Sau một ngày làm việc em mơ về khói ấm khuôn mặt riêng…

Rời khỏi thế giới cô độc, thơ Thanh Tâm Tuyền chạm vào sự thật trong sáng dịu hiền.

Tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
Trong sạch như một lần sự thật

Chạm vào ước mơ có thật. Thóc gặt về người phải dư ăn, bột mịn màng thừa bánh đề dành. Một quê hương có sữa hoa huệ ấm và cánh hồng ngọt vị tình yêu.

Thời gian không rời nhau mang đến bao nhiêu mưa
Dạy em yêu phía sau cửa sổ
Xứ sở như là sự đoàn viên tuổi trẻ
Xóa sạch oán thù
Nhường nhau là hết nói
Con về dựng lại cửa nhà
Trẻ con đi học trên đường rộng
Xứ sở như là hy vọng ở ngày mai
Đất nước yên lành tình sông núi
Cả lòng người thơm hương dạ hội
Trọn ngày mai, ngày mai….

Bài thơ Vang vang trời vào xuân viết ở trại Tân Lập Vĩnh Phú những năm 1978 – 1982 thật hào sảng. Tôi như nhìn thấy một Thanh Tâm Tuyền khác.

Vang vang trời vào xuân
Ta bật kêu mừng rỡ.

Tôi không còn cô độc, Thanh Tâm Tuyền đã một lần để thi sỹ giữ vai trò lĩnh xướng hội xuân.

Trong thời buổi hai trận tuyến không thể điều hòa, các thế lực ngoại bang mang chiến tranh xâm lược và chia cắt ập đến từng mái nhà nhỏ bé Việt Nam, việc phải dạt vào phía bên này hoặc phía bên kia bởi gia tốc mạnh mẽ của lịch sử đã chia đẩy số phận của hàng triệu, triệu con người. Đâu phải việc của riêng ai. Nếu không trên tinh thần bao dung và thức tỉnh như thế thì làm sao hàn gắn cho lành những vết đau thương mà lịch sử hiện đại đã để lại. Khi xem xét bất kỳ một tác giả thơ nào, tôi trước hết không để ý đến việc họ theo trường phái mỹ học hay chủ nghĩa nào trong sáng tác văn chương mà trước hết xem xét thơ có hay không đã. Có phù hợp với những giá trị nhân bản của con người hay không? Cùng với Vũ Hoàng Chương và Tô Thúy Yên, Thanh Tâm Tuyền là 3 gương mặt tiêu biểu của thi ca Miền Nam (1955-1975). Với Thanh Tâm Tuyền được ghi nhận như là một thi sỹ thực hiện việc mở cánh cửa để làm mới thơ Miền Nam, sau những năm dài ngự trị của phong trào Thơ mới 30-45. Góp phần đổi mới thơ Việt Nam hiện đại.

Mùa xuân năm 2011. Đất nước đã đoàn viên được gần nửa thế kỷ. Tôi có việc lên Đà Lạt. Đúng vào lúc nắng đẹp nhất trong năm. Cái nắng thủy tinh mà tôi đã gặp từ thời trai trẻ trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Tĩnh lặng đâu đây tiếng chuông nhà thờ nhỏ nhẹ. Tôi giành một phần thời gian tìm thầy tôi – Giáo sư Hồ Tấn Trai. Để nói một điều dù đã muộn và dù là điều ấy cũng không có gì tuyệt đối hệ trọng nữa đối với ông. Nhưng không nói ra vẫn canh cánh bên lòng. Đó đâu phải là câu chuyện văn chương. Mà hơn thế nữa – là ân tình của cuộc đời này. Mọi số phận con người cứ bình thản trôi đi rồi có một lúc cũng như buổi chiều kia sao bỗng vỡ vào chuông giáo đường để chỉ còn lại ngân nga yêu thương và nhân ái giữa con người với con người. Nó như vượt qua được cái ranh giới của thực tại để đến được bình nguyên huyền diệu của chân thiện mỹ. Thi ca là tiếng chuông giáo đường của mọi thời đại để thức tỉnh tình yêu và lòng cao thượng của con người. Được biết sau 1975, Thầy Trai chuyển về đại học Văn Khoa ở Huế được mấy niên. Rồi lại chuyển lên Khoa Văn Đại học Đà Lạt. Tiếp tục nghề dạy học mà thầy đã làm ở đấy từ 1943. Nhưng đã muộn mất rồi. Thầy đã mất cách đó 6 năm. Từ 2005. Trước một năm Thanh Tâm Tuyền ra đi không trở lại ở Hoa Kỳ. Năm 2006. Những năm cuối đời ở Đà Lạt, thầy Hồ Tấn Trai có viết một trước tác với tiêu đề: Tôi học phật. In trong tập kỷ yếu của khóa 1959 – 1963 – khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thầy tôi bảo: Thầy học phật Để trị chứng nóng giận mà trị luôn chủ nghĩa cá nhân. Thiền để từ bỏ tham, sân, si. Thầy ước nguyện chỉ có một điều thật giản dị mà hư vô thăm thẳm: Làm sao tôi có thể sống như không có tôi. Thầy mồ côi cha từ rất sớm. Được tiếp xúc với đạo phật từ khi còn bé ở huyện Hương Thủy – Phủ Thừa Thiên một thời xưa cũ.

Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, mùa xuân 1971- 1972. Thanh Tâm Tuyền lên Đà Lạt. Ông viết bài nghị luận Dấu chân cũng bàn về Thiền và Phật, đăng trên tờ bán nguyệt san Văn xuất bản ở Sài Gòn 1971. Thi sỹ tỏ ý nghi ngờ về thiền bởi ông cho sự tầm thường dằng dặc bao trùm lên hết thảy. Thi sỹ khuyên người khác tiếp tục thiền. Còn ông sẽ thiền chút chút trước ly cà phê buổi sáng trong một quán đông người. Năm 1990 Thanh Tâm Tuyền đi Mỹ. Thế hệ thầy Trai và Thanh Tâm Tuyền cho đến lúc cuối đoạn đường đời, vẫn chưa thể gặp nhau. Trên nhiều phương diện của từ ấy. Cuộc đời của họ đã vỡ vào chuông giáo đường để chi còn lại tiếng ngân nga của ân tình và thức tỉnh.

Con người điềm đạm, trầm ngâm, ít nói, khi nói thì nói chậm rãi, chưa bao giờ hô hoán hay dùng những chữ kích động” giờ đã định cư tại Hoa Kỳ dưới tấm bia đá trắng xám phẳng phiu chỉ đường có ghi rõ tên khai sinh DZƯ VĂN TÂM. To hơn rất nhiều tên bút danh: Thanh Tâm Tuyền.

Mùa xuân ở Đà Lạt bây giờ vẫn còn đó. Cả thầy tôi và Thanh Tâm Tuyền đều không biết, từ năm 2007, người ta đã mang cây hoa Ban từ xứ xở khác về trồng ở nhiều con đường, dãy phố. Cứ mỗi khi mùa xuân về, hoa Ban lại nở trắng muốt dưới bầu trời hiền dịu nắng thủy tinh như chẳng hề hay biết những số phận con người đã có mặt ở đây./.

Khuất Bình Nguyên. 11-2017

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Công khai 55 tập nhật ký của Tưởng Giới Thạch


Tưởng Giới Thạch [1], còn gọi Tưởng Trung Chính, là người đứng đầu Chính phủ Quốc dân Trung Quốc thời kỳ 1928-1949, từng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nhật trong 8 năm 1937-1945, khi ra Đài Loan lại làm Tổng thống chính quyền đảo này cho tới ngày qua đời ở Đài Bắc (5/4/1975). Tưởng cũng là nhân vật gây tranh cãi nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tuy mạng Bách Độ (Baidu) của Bắc Kinh đánh giá Tưởng là lãnh tụ dân tộc, là vĩ nhân trong lịch sử cận-hiện đại Trung Quốc nhưng nhiều người đại lục vẫn đánh giá rất xấu về Tưởng. Vậy thực chất con người Tưởng Giới Thạch như thế nào ?

Gần đây việc công khai phần lớn bộ Nhật ký Tưởng Giới Thạch gồm 55 tập, tổng cộng 10 triệu chữ đã góp phần giải đáp câu hỏi này. Đây là một sự kiện quan trọng, bởi lẽ lịch sử cận đại của Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề chưa được làm rõ, do hai phía Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân có quan điểm khác xa nhau về các vấn đề đó. Bộ nhật ký nói trên không những là một tư liệu lịch sử quan trọng mà còn giúp thiên hạ hiểu về thế giới nội tâm của Tưởng.

Tưởng Giới Thạch viết nhật ký từ năm 28 tuổi (1915), ngày nào cũng viết, suốt 57 năm liền, cho tới 3 năm trước khi mất, do tay run mới thôi. Trong nhật ký, ông viết cả về đời tư và công việc, các khuyết điểm của mình v.v… Chưa chính khách nào từng viết nhật ký kiểu như vậy. Ngoài 4 tập bị mất, hiện còn lại 63 tập nhật ký, bao trùm thời gian 53 năm. Đây là bộ nhật ký hoàn chỉnh nhất, đồ sộ nhất còn giữ được trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1975 Tưởng chết, con là Tưởng Kinh Quốc[2] giữ bộ nhật ký này. Chịu ảnh hưởng của cha, người con cũng viết nhật ký suốt đời. Vì thế mà có hai bộ nhật ký, chúng trở thành tài sản chung của các hậu duệ họ Tưởng.

Năm 1988, Tưởng Kinh Quốc chết, con út Quốc là Hiếu Dũng và vợ là Tưởng Phương Trí Di[3]giữ hai bộ nhật ký trên. Sau đó các hậu duệ họ Tưởng đều ra nước ngoài định cư. Lúc đó nhiều tập nhật ký đã có chỗ giấy bị mủn, chữ mờ hoặc mất chữ, ngoài ra do viết bằng mực nho (làm từ keo da trâu), khi trời nóng, mực chảy ra làm cho nhiều trang dính nhau. Sau khi chồng chết, bà Di bắt đầu nghĩ chuyện bảo quản lâu dài hai bộ nhật ký. Bà nghĩ như vậy là rất có trách nhiệm với lịch sử dân tộc.

Hồi đó tại Đài Loan xuất hiện xu hướng xóa bỏ vai trò của họ Tưởng.[4] Lãnh tụ đảng Dân Tiến là Trần Thủy Biển (Tổng thống xứ này thời gian 2000-2008) nói Tưởng Giới Thạch là người nước ngoài, là kẻ xâm lược Đài Loan. Giới sử học cũng không quan tâm tới hai bộ nhật ký nói trên. Chính quyền Đài Loan không thu xếp nơi lưu giữ các tài liệu về họ Tưởng, một trong Tứ đại gia tộc (Tưởng, Tống, Khổng, Trần) nổi tiếng.[5]

Vì thế, các hậu duệ họ Tưởng không thể không quan tâm tới đề nghị của Viện Hoover (Hoover Institute) thuộc Đại học Stanford (Mỹ) muốn được bảo quản hai bộ nhật ký này. Sau nhiều lần thương lượng, Tưởng Phương Trí Di thay mặt họ Tưởng thỏa thuận giao cho Viện Hoover bảo quản hai bộ nhật ký đó trong 50 năm dưới dạng ký gửi (deposit) chứ không có quyền sở hữu (own or possess); khi thời cơ chín muồi, các tài liệu này sẽ được “mãi mãi lưu giữ trên lãnh thổ Trung Hoa (Chinese territory, chưa nói rõ là đại lục hay Đài Loan)”.

Tình hình Đài Loan ba năm tiếp sau cho thấy quyết định để Viện Hoover giữ hai bộ nhật ký là đúng: Xu hướng loại bỏ họ Tưởng tăng dần, thậm chí có kẻ còn phá hoại các di tích liên quan họ Tưởng hiện có ở Đài Loan, như đốt Thảo Sơn Hành Quán, bôi sơn bẩn tượng Tưởng Giới Thạch v.v…

Cuối năm 2004, Quách Đại Quân và Mã Nhược Mãnh, hai cán bộ nghiên cứu người Mỹ gốc Hoa của Viện Hoover đến gặp các hậu duệ họ Tưởng tiếp nhận hai bộ nhật ký đưa về Viện. Tin này làm cho giới sử học Đài Loan sửng sốt, bây giờ họ mới tiếc nuối vì đã để tuột mất những tài liệu lịch sử vô giá.

Viện Hoover đã chi 3 triệu USD để tu sửa các trang nhật ký hư hỏng, chụp micro phim, làm photocopy v.v… trong mất hơn một năm. Viện cử giáo sư Quách Đại Quân thẩm tra, xử lý hai bộ nhật ký.

Nhật ký Tưởng Giới Thạch (sau đây viết tắt Nhật ký) viết bằng bút lông, chữ phồn thể, hành văn lối cổ, không chấm câu, không xuống dòng, ai không thạo cổ văn và lịch sử Trung Quốc thì khó mà đọc hiểu, chưa kể chữ viết tháu rất khó đọc. Trong một số tập có chỗ bị sửa lại hoặc bôi đen (có thể do chính tác giả làm) nên nội dung thiếu hoàn chỉnh.

Hồi đó phần lớn các hậu duệ họ Tưởng không ở Mỹ, vì thế họ ủy quyền cho bà Tống Tào Lợi Huyền, giáo sư thỉnh giảng của Viện Hoover, thay họ đọc và chỉnh lý Nhật ký.

Bà Huyền họ Tào, có chồng là Tống Trọng Hổ, con Tống Tử An. An là em trai của ba bà chị Tống Ái Linh (vợ Khổng Tường Hy), Tống Khánh Linh (vợ Tôn Trung Sơn, sau 1949 làm Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa), Tống Mỹ Linh (vợ Tưởng Giới Thạch) và ông anh là Tống Tử Văn (từng làm Thủ tướng Chính phủ Quốc Dân năm 1945). Hồi ấy do đang đọc các tư liệu của họ Tống lưu trữ tại Viện Hoover nên bà Huyền tin rằng họ Tống của mình có công lớn trong việc đánh đổ nhà Thanh, vì thế bà cũng quan tâm đến tư liệu của họ Tưởng. Bà Huyền có bằng tiến sĩ, giỏi tiếng Anh và Hán ngữ, – không như các hậu duệ họ Tưởng đều kém Hán ngữ cổ, – cho nên thích hợp với việc chỉnh lý các tư liệu của ba họ Tống, Tưởng, Khổng.

Sau đó, Viện Hoover nhiều lần thuyết phục họ Tưởng cho công khai Nhật ký trước công luận, chỉnh lý xong đợt nào thì công khai đợt đó. Tưởng Phương Trí Di đồng ý. Đây là một quyết định vô tư và dũng cảm, có lợi cho việc nghiên cứu sử Trung Quốc. Đáp lại, Viện đồng ý yêu cầu không công khai một số nội dung riêng tư không liên quan tới việc nghiên cứu sử học; các nội dung ấy sẽ được Viện này xử lý và công khai vào năm 2035.

Khi đọc các tập đầu Nhật ký, bà Huyền không thể tưởng tượng được nhân vật mình xưa nay kính trọng gọi là “Cụ Tưởng” (Tưởng Công) ấy lại có một thời trai trẻ trác táng đến thế. “Một người như vậy sao mà có thể trở thành Tổng thống nhỉ ?” – bà tự hỏi.

Là tín đồ Ki Tô giáo, bà Huyền có quan điểm đạo đức nghiêm khắc, không thể thông cảm với những chuyện ăn chơi sa đọa Tưởng ghi trong Nhật ký. Mãi sau bà mới biết rằng quan chức Trung Quốc hồi đầu thế kỷ XX có năm thê bảy thiếp và ăn chơi đồi trụy là chuyện rất bình thường.

Năm 1915, Tưởng Giới Thạch được thày học giảng cho biết viết nhật ký là để tự kiểm điểm bản thân, hiểu ra các lầm lỗi, qua đó mà tiến bộ. Từ đó Tưởng bắt đầu ghi nhật ký, sau khi làm bất cứ việc gì xấu, đều tự kiểm điểm và tự hứa phải “giới dục, giới sắc”, từ bỏ các ham muốn tầm thường. Trạng thái tâm lý vật vã tự đấu tranh của Tưởng khiến bà Huyền càng đọc càng say mê, và phát hiện thấy Tưởng rất nghiêm khắc với bản thân.

Viện Hoover đưa ra mấy nguyên tắc xử lý tư liệu: không được xóa hoặc sửa bất kỳ câu chữ nào trong bản gốc; chỉ được xử lý những vấn đề riêng tư và sức khỏe của cá nhân, tài chính gia đình và những chê trách không thân thiện với người ngoài gia đình.

Năm 2006, Viện bắt đầu cho công chúng đọc Nhật ký phần từ năm 1917 đến 1931. Năm 2007 lại công khai nhật ký thời gian 1932-45; năm 2008 công khai nhật ký cho đến 1949. Chỉ cần xuất trình bằng lái xe là ai cũng được vào đọc, nhưng chỉ được đọc micro phim, chỉ được chép tay, không được chụp ảnh hoặc photocopy, cấm mang máy tính vào phòng đọc. Điều kiện ngặt nghèo này đã hạn chế số người muốn đọc Nhật ký. Mấy ai có đủ nghị lực và thời gian chép cả chục triệu chữ Hán cổ ?

Năm đầu có khoảng 100 người Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Nhật, Hàn đến đọc; chỉ vài người đọc hết toàn bộ, chưa ai chép hết Nhật ký.

Mới đầu các hậu duệ họ Tưởng rất lo việc công khai Nhật ký sẽ khiến dư luận có ấn tượng xấu về Tưởng Giới Thạch. Nhưng kết quả lại làm cho Tưởng được đánh giá cao hơn trước, nhiều người Trung Quốc thấy rằng trước nay họ đã hiểu sai Tưởng Công.

Thí dụ họ luôn nghĩ Tưởng chỉ lo chống Cộng sản mà không lo chống Nhật xâm lược. Nhưng nhật ký Tưởng cho thấy trong ban lãnh đạo Quốc Dân Đảng thời ấy, Tưởng là người quyết tâm chống Nhật hơn ai hết. Hồi đó Nhật đã chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, dân chúng cũng như hầu hết chính khách nước này đều cho rằng không thể chống lại nổi quân Nhật, nếu kháng chiến thì các thành phố cùng các di tích lịch sử sẽ bị phá hủy, hàng chục triệu người sẽ thương vong. Nguyên Chủ tịch Quốc Dân Đảng Uông Tinh Vệ cũng chủ hòa với Nhật, về sau Uông lập Chính phủ thân Nhật ở Nam Kinh, đối lập với Chính phủ của Tưởng ở Trùng Khánh. Chính khách họ hàng Tưởng như Khổng Tường Hy (anh rể vợ), Tống Tử Văn (anh vợ), v.v…, trí thức lớn như Hồ Thích, Sái Nguyên Bồi cũng chủ hòa, duy nhất Tưởng chủ chiến. Trong Nhật ký có câu: “Cuộc chiến Trung-Nhật là không thể tránh được”, những người chủ hòa đáng “giết mà không tha”.

Trong Nhật ký ngày 21/8/1935, Tưởng dự đoán khá đúng về các giai đoạn của cuộc chiến: “1) Nhật muốn không đánh mà khuất phục được Trung Quốc. 2) Nhật chỉ có thể uy hiếp, phân hóa Trung Quốc, tạo ra lũ thổ phỉ Hán gian, làm Trung Quốc rối loạn mà không dùng vũ lực để chinh phục. 3) Sau cùng Nhật dùng binh lực tấn công. 4) Trung Quốc chống lại. 5) Do quốc tế can thiệp mà dẫn đến đại chiến thế giới. 6) Nội bộ nước Nhật nổi loạn làm cách mạng. 7) Giặc Lùn thất bại trong vòng 10 năm”. Phải thấy các dự đoán này rất có tầm nhìn, không thể chê Tưởng dốt chính trị.

Nhật ký cho thấy ngay từ năm 1933, trước Mao Trạch Đông khá lâu, Tưởng đã đề ra chiến lược đánh lâu dài, toàn dân kháng chiến, chờ thời cơ quốc tế thuận lợi mới phản công. Tưởng chủ động mở chiến dịch Thượng Hải (8-11/1937) diệt hơn 4 vạn quân Nhật, tuy phía Trung Quốc thương vong 30 vạn song Tưởng đã thành công giữ chân 37 vạn quân Nhật ở vùng Đông và Nam, để Nhật phải rải quân trên diện rộng, do đó không đủ sức đánh miền Tây, tranh thủ được thời gian sơ tán các cơ quan, nhà máy, trường học đến miền Tây xa xôi (Chính phủ Tưởng dời đô về Trùng Khánh) để chuẩn bị đánh lâu dài.  “Cuộc chiến này không ở chỗ thắng thua mà ở chỗ tinh thần dân tộc tăng lên hay giảm xuống”, “Thua mà không hàng, níu kéo giặc cho tới lúc chúng sụp đổ”,  – Tưởng viết.

Nhật ký cho thấy Tưởng thời trẻ từng say mê nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Năm 1923 trong diễn thuyết khi ở thăm Liên Xô, Tưởng nói cách mạng Trung Quốc “đi hai bước”, cuối cùng sẽ “thực hiện chủ nghĩa cộng sản”. Ông còn đồng ý cho con trai là Tưởng Kinh Quốc học 12 năm ở Liên Xô và vào Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong quan hệ với Mỹ, Tưởng kiên trì giữ “sự tôn nghiêm của quốc gia”, trong Nhật ký có những câu chửi “đế quốc Mỹ”. Sau khi ra Đài Loan, tuy chủ trương “phản công đại lục” nhưng Tưởng lại phản đối ý đồ của Mỹ định ném bom nguyên tử Trung Quốc và Điện Biên Phủ của Việt Nam. Nhật ký ngày 17/4/1954 viết: “Không được ném bom khinh khí, bom nguyên tử Mỹ xuống Việt Nam và đại lục Trung Quốc”. Ngoài ra tuy căm thù Đảng CSTQ nhưng trong Nhật ký không có câu nào chửi đảng này, khác hẳn những lời lẽ mà một số báo đài bên phía Đảng CSTQ từng dùng để thóa mạ Tưởng.

Nhật ký cho biết, mãi đến hai tháng mười ngày sau khi tại Bắc Kinh Mao Trạch Đông tuyên bố khai sinh nước CHND Trung Hoa, cha con Tưởng mới đáp máy bay rời Thành Đô ra Đài Loan. Tưởng Giới Thạch rưng rưng nước mắt ra lệnh cho máy bay lượn hai vòng tạm biệt thành phố này rồi mới đi hẳn.

Nhiều người cho rằng Tưởng viết nhật ký là để phô trương mình và do đó viết toàn những điều bịa đặt. Nhưng quan điểm đó không đứng vững bởi mấy lẽ sau.

Thứ nhất, trong Nhật ký có nhiều chỗ Tưởng viết những chuyện riêng và các tính xấu của mình lẽ ra nên giữ kín, như tật thủ dâm, hiếu sắc, “thấy gái là nổi dục vọng, cuồng lên không thể kiềm chế”, chuyện mắc bệnh lậu do lang chạ với gái điếm v.v..

Thứ hai, Nhật ký viết nhiều lời chê trách, chửi rủa thậm tệ hầu hết mọi người, kể cả người thân như Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, cộng sự cấp cao như Phó Tổng thống Lý Tôn Nhân, Hồ Hán Dân, Tôn Khoa v.v…, thậm chí Tưởng còn chê trách vợ (Tống Mỹ Linh) một cách nhẹ nhàng bằng câu “Duy tiểu nhân dư nữ tử nan dưỡng dã” (唯小人與女子難養也 / Lời Khổng Tử trong Luận Ngữ, tạm dịch : “Khó mà chung sống được với tiểu nhân và đàn bà”).

Thứ ba, sinh thời Tưởng chưa hề công bố bất cứ đoạn nhật ký nào hoặc lợi dụng nhật ký để đề cao mình, tuy rằng ông từng nhờ người chép lại Nhật ký để đề phòng bản gốc bị mất.

Dĩ nhiên các sự việc trong Nhật ký đều viết theo quan điểm cá nhân Tưởng, cho nên tuy cơ bản là viết người thực việc thực nhưng Nhật ký chỉ là một nguồn tài liệu tham khảo cho các sử gia.

Giáo sư Lã Phương Thượng ở Khoa Sử, Đại học Đông Hải, Đài Loan nói: Từ Nhật ký có thể thấy lộ trình nội tâm của một người từ “kẻ bình thường” trở thành “nhà lãnh đạo”. Tưởng Giới Thạch sống rất tiết kiệm, mặc áo vá, ăn uống thế nào cũng xong, không uống rượu, không hút thuốc lá, chỉ uống nước sôi để nguội.

Bà Quách Đại Quân nói: Trong Nhật ký thường có những chỗ phân tích thời cuộc quốc tế, qua đó có thể thấy Tưởng Giới Thạch có tầm nhìn khá cao, luôn xem xét vấn đề từ nhiều phương diện.

Giáo sư Dương Thiên Thạch, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Lịch sử Cận đại thuộc Viện KHXH Trung Quốc (Bắc Kinh), từng sang Mỹ nhiều lần để đọc Nhật ký, nói: Bộ nhật ký này dài tới hơn 50 năm, giúp mọi người hiểu thế giới nội tâm của Tưởng và nhiều bí ẩn lịch sử chưa ai biết, có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cận đại và hiện đại, ai không đọc sẽ bị thiệt thòi rất nhiều.

Vì không ai có thể chép tay hết Nhật ký nên dư luận mong muốn bộ tư liệu này được chỉnh lý và xuất bản phát hành. Viện Hoover và các hậu duệ họ Tưởng đã đồng ý với yêu cầu đó. Vả lại họ thấy việc chỉ công khai từng phần Nhật ký đã gây ra rắc rối. Những người đọc Nhật ký chỉ chép được một phần, có khi chép sai, sau đó họ viết báo, viết sách đưa ra những tư liệu sai và quan điểm sai, gây rối dư luận. Việc xuất bản toàn bộ  Nhật ký sẽ giúp mọi người có dịp tự tìm hiểu về Tưởng Giới Thạch.

Năm 2010, Viện Nghiên cứu Trung ương (Academia Sinica, cơ quan học thuật cao nhất Đài Loan, tương đương Viện hàn lâm Khoa học) được Tưởng Phương Trí Di ủy quyền đã in 55 tập Nhật ký Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó việc xuất bản phải hoãn lại vì có hậu duệ họ Tưởng khiếu nại ra tòa vấn đề ai được giữ bản quyền bộ nhật ký này.

Thực ra từ lâu một số người đã xuất bản sách viết về Nhật ký Tưởng Giới Thạch, nhưng các tác giả đó đều chỉ mới đọc một phần Nhật ký, vì thế họ không thể đánh giá toàn diện và chính xác về Tưởng Giới Thạch. Bởi vậy công luận vẫn đang mong đợi Nhật ký sẽ sớm được xuất bản, phát hành.

Một phiên bản bài viết đã được đăng trên Văn hóa Nghệ An số 356 (10/1/2018).

Nguyễn Hải Hoành

—————

[1] 蔣介石 (1887-1975), tên phiên âm theo kiểu Đài Loan là Chiang Kaishek

[2] 蔣經國 Chiang Ching-kuo (1910-1988), Tổng thống Đài Loan 1975-1988, từng học 12 năm ở Liên Xô (1925-1937), lấy vợ người Nga.

[3] 蔣方智怡 Chiang Fang Chi-yi, sinh 1949, họ Phương, sau khi làm dâu nhà họ Tưởng mới lấy thêm họ nhà chồng.

[4] Thể hiện ở phong trào “Khứ Tưởng”.

[5] Tức Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, Trần Quả Phu-Trần Lập Phu.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

奧古斯都神的功業記


【中译者的话】

公元一世纪罗马传纪作家苏维托尼乌斯在其《神圣的奥古斯都传》中提到奥古斯都的遗嘱。他说遗嘱写在两本册子上,另外有三卷密封的文书,其中有一卷是奥古斯都亲自撰写的他自己一生的成就,他叮嘱把这份文卷的全文铭刻在铜牌上立于他陵寝的入口处作为纪念【苏维托尼乌斯《神圣奥古斯都传》CI.4】。后来帝国境内其他地方的许多神殿大概也纷纷抄刻了这一自传的全文。但这些铭文绝大部分都随着建筑物的毁灭而湮没无存了。公元1555年,学者在小亚的安齐拉城(现代土耳其的安卡拉)的一座罗马女神和奥古斯都古庙中发现了这一铭文的拉丁语原文和希腊语译文。铭文几乎全部完好保存。(后来在小亚俾泰尼亚的阿波罗尼亚和安条克也发现一部分)。这之后,欧洲史学界对这一重要发现作了大量的抄录、校订、考证、翻译和评论解释等工作,使这一铭文成为一切古代铭文中最卓著的一个。蒙森曾誉之为“拉丁铭文的女皇”。这一铭文因其发现地点而以“安齐拉纪念铭文”(Monumentum Ancyranum)一名闻名于世。

奥古斯都这一自传铭文共35段。全文概括了他自己一生的经历和成就,大致分三部分:一、关于他历任官职和所获得的荣誉(1-14段);二、他用自己的资财为罗马和公众举办的事业(15-24段);三、他在战时和平时所完成的业绩(25-35段)。这一自传是按罗马历来纪念名人一生成就的传统写法写成的,与古代东方皇帝纪功碑之类铭文相似,是政治性文献,不是历史年表。但它是研究奥古斯都时代有价值的史料。

奥古斯都尽管自称还政于民,恢复共和政体,但从这篇自述看,他毫不谦逊,完全以大权在握,大功告成的君主的口气炫耀并历数自己的功绩和“德行”。因坦率无虚饰,所以文字简洁明了。由此亦可见作者的绝对无上地位。

安齐拉铭文不仅是研究奥古斯都的重要第一手资料,在古铭文学、语言学和拉丁文学等方面也都很有价值。

[下面所译铭文的简短前言和本文均选自N.刘易斯和M.来因霍德主编《罗马文明》第二卷,英译本,第 9-19页。

拉丁原文载于《拉丁铭文集》(CIL)第三卷,第769一799页,柏林]

在我十九岁时,我主动用自己的财产组织了一支军队并利用它使处于一小撮人【指马可·安东尼及其党人。此指B.C.44-43年间屋大维与元老院合作反对安东尼事】暴政压迫下的共和国恢复了自由。为此功绩,元老院于盖约·蓬萨和奥拉斯·赫喜阿斯为执政官时【B.C.43年】通过表扬法令使我成为元老院的一名成员,同时授我以等同于执政官的发言权,并授予我绝对统治权。元老院还任命我为代大法官,并以此身份与两执政官一起照管国事,务使国家不受伤害。同一年当两执政官在战争中阵亡后,人民选我为执政官,我成为处理共和国大事的三头之一【后三头】。

我依照法律程序流放了刺杀我父亲的人,使他们的罪行得到惩罚。这之后,当他们发动战争反对共和国时,我在战场上两次克服了他们【指B.C.42年的两次菲利比战役】。

我在世界各地的陆地和海上进行了对内对外多次战争。作为胜利者,我宽恕所有乞求原谅的公民。对于外邦人,凡可赦免而无害于安全者,我都宁愿赦免而不消灭他们。向我宣誓效忠的罗马公民兵约有五十万人:其中三十余万人在服役期满后,我送他们到殖民地定居或送回原籍。对所有这些人,我都分予土地或赠予金钱作为他们服役的报酬。我俘获了六百艘战船,其中尚未计入小于三层桨的小型船只。

我曾两次举行小凯旋式,三次举行正式凯旋式【一次在B.C.40年与安东尼在布林的西议和之后,另一次在B.C.36年战胜绥克斯都·庞培之后。B.C.29年,他一次举行了对达尔马提亚,亚克兴和埃及胜利的三个凯旋式】,二十一次获得英帕拉多称号【给予奥古斯都的英帕拉多称号很多是由于他的副帅特使的胜利】。此后,元老院曾一再宣布为我举行凯旋式,我均拒绝了。每次战争,我在完成自己的誓言之后便把装饰权杖的月桂花环奉还于卡庇托尔神殿中【共和国惯例,凯旋后的将军把权杖桂环存入卡庇托尔神殿以示完成出发时的誓言】。为我及由我指挥的副手们在海上或陆上所取得的胜利,元老院曾五十五次向不朽的诸神举行感恩献礼。按元老院的命令举行感恩礼的日子共达八百九十天。在我历次的凯旋式上,曾有九个国王或王子走在我的战车前。到我写本文件时为止,我已任执政官十三次,正第三十七次担任保民官【A.D.14年】。

当马尔库斯·马赛拉斯和琉喜阿斯·阿伦提阿斯任执政官期间【B.C.22年】,元老院和人民授予我的独裁权,无论是我在场或我不在场时宣布者,我均谢绝未予接受,在粮食极端缺乏的时期,我承担起粮食供应总监的责任。我执行此职数日之后,便通过使用自己的财力和人力购进粮食,解除了全体公民的饥饿危险和忧虑【此事标志罗马皇帝承当“供粮总监”(Cura annonae)之始。此后这一职责一直由皇家行政部承担】。当时还授予我终身的执政官职权,我拒未接受。

在马尔库斯·维尼西阿斯和昆图斯·琉克利喜阿斯任执政官期间【B.C.19】,又在巴布利阿斯·林都拉斯和格涅阿斯·林都拉斯任执政官期间【B.C.18】,第三次在鲍鲁斯·费比阿斯·马克西穆斯和昆图斯·图贝罗为执政官期间【B.C.11】,罗马元老院和人民一致同意推举我为独一的,拥有最高权力的法律和道德监察【实际上这是给奥古斯都以永久独裁权,然而是在一种新的伪装之下】。但我拒不接受给我加以任何违背祖宗传统的权力。因此,元老院希望我当时采取的行动我都以保民官权使之付诸实施【可能指他的社会道德立法,最早开始于B.C.18年】。后一项权力,我五次自愿要求,并经元老院许可,与一同僚分担【两次与马尔库斯·阿格里巴,三次与提比略分担】。

我连续十年是处理共和国事务的三头之一。到我写此文件时为止,我已任元老院成员四十年。我还是大祭司长,占卜官,负责举行献牺牲仪式的十五人圣典团成员,指导宗教性宴会的七人圣宴团成员,阿瓦尔祭司团成员,火神会成员和交涉外交的典礼官之一【所列七种职位均属宗教性官职。其中前四种为罗马国家宗教重要教职。奥古斯都以后诸帝均亲自担任此四种教职首领。阿瓦尔祭司团为古农业神祭司团,共设祭司12人】。

在我第五任执政官期间,我遵人民和元老院之命,增加了贵族人数。我三次重订元老院人选名单【B.C. 29,19,11年】。在我第六任执政官期间【B.C.28年】,我以马尔库斯·阿格里巴为同僚进行了一次人口财产调查。我举行了四十二年来没举行过的卢斯特鲁姆仪式。【传说罗马第六王塞维乌斯·图里乌斯最早举行人口财产调查。完成之后,向马尔斯神供献三牲。净化有渎神明之处,这种仪式称为卢斯特鲁姆 Lustrum】这次人口调查所记录的罗马公民人数为四百零六万三千人。后来在盖约·孙索里纳斯和盖约·阿西尼阿斯任执政官期间【B.C.8年】,我以执政官权为依据,独自举行了又一次人口调查。这次调查记录的罗马公民人数为四百二十三万三千人。第三次人口调查是在绥克斯都·庞培和塞克斯都·阿普来阿斯任执政官期间【A.D.14年】,我以执政官权为依据,以我儿提比略·凯撒为同僚而完成的。此次记录罗马公民四百九十三万七千人。依我所创始的新立法,我恢复了已遭吾一代人废弃的许多祖先旧传统;我本人也在许多方面为后代树立了效法的榜样。

元老院规定每个第五年由执政官和祭司为我的健康举行一次祝福宣誓。为履行誓言还愿,在我一生中时常举行庆祝赛会;有时由四个主要祭司团主持,有时由执政官主持。此外帝国全体公民也全体一致,或分别代表个人,或作为自治市集体的成员,不断到所有的神殿中为我的健康祷福。

遵元老院命令,我的名字被写入了萨利祭司团的赞美诗中。同时以立法规定我永远神圣不可侵犯,并终身拥有保民官权【奥古斯都在B.C.36年被授予保民官的不可侵犯权。B.C.30年又曾获得保民官权。但直到B.C.23年的宪法改革他才开始用保民官任期数计算他在位的年数。参见前第4段。】。人民将我父亲曾担任过的大祭司长职位授予我,但由于一个担任大祭司长的同僚还健在【指雷必达。此人于B.C.36年解除三头身份,保留大祭司长职。死于B.C.13年,次年奥古斯都遂接受大祭司长职】,我拒绝取代其位。几年之后,当普布里阿斯·萨尔皮喜阿斯和盖约·瓦勒吉阿斯为执政官时【B.C.12年】,原在国内动乱期间占居该职位之人去世,我始接受该职位。当时全意大利蜂聚了为数众多的公民来参加选我为大祭司的投票,这是罗马历史上前所未有的情况。

当昆图斯·琉克利喜阿斯和马尔库斯·维尼西阿斯为执政官时的某一天【B.C.19年】,我从叙利亚回罗马。为纪念我的归来,元老院在卡佩那门的“荣誉与美德”神殿之前,向“还乡之命运”女神奉献了一个祭坛,并以法令规定此后每年逢此周年纪念日【10月12日】,各祭司和维斯塔贞女均须向该祭坛奉献牺牲。这一日还因我而命名为奥古斯塔利亚。

这次由元老院下令,一部分行政官员和乎民保民官同执政官昆图斯·琉克利喜阿斯以及部分重要市民一起被派往坎佩尼亚去迎接我。这是到那时为止除我之外,未曾给过任何其他人的荣誉。在提比略·尼禄和巴布利阿斯·昆提利阿斯为执政官期间【B.C.13】,我成功地处理了西班牙和高卢行省的事务。从那里返回罗马时,元老院为了纪念我的归来,命令在马尔斯广场奠立一个庄严的和平祭坛,并以法令规定一切行政官员、祭司和维斯塔贞女每年周年日向之献祭。

我们的祖先决定任何时候,当整个罗马帝国在海上和陆上赢得胜利并取得了和平时,即关闭雅努斯-奎利努斯神庙【Quirinus=Mars】,这也是他们的愿望。据记载自建城以来到我出生之前,这个神庙只关闭过两次,而在我任元首期间,元老院曾三次命令关闭它。

由于我的尊荣,我的儿子盖约和琉喜阿斯·恺撒【两人是奥古斯都的外孙,系其女朱理亚与阿格里巴之子。奥古斯都于B.C.17年将两外孙过继为继承人。但两人均早逝,盖约死于A.D.4年,琉喜阿斯死于A.D.2年】–年轻时就被命运之神从我身边夺走–在年满十五岁时就被罗马元老院和人民指定为当选执政官,许可他们五年之后就任正式官职。元老院还决定他们从被引上广场讲坛之日起,就可以参加国事辩论。此外,罗马骑士团还赠他们以银盾和银矛,并尊他们为“青年领袖”。

遵照我父亲的遗嘱,我付给罗马平民每人三百塞斯特斯【罗马小银币名,此时等于1/4个狄纳里】;在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我以自己的名义从战利品中赠给每人四百塞斯特斯;在我第十任执政官时【B.C.24年】我从自己的财库中再次赠给每人四百塞斯特斯;在我第十一任执政官时【B.C.23年】,我十二次用我自己的钱购买粮食进行分配;在我第十二次任保民官时【B.C.11年】,我第三次发给每人四百塞斯特斯。我的这些赠款每次所泽及的人数从来不少于二十五万。在我第十八次掌保民官权和十二次任执政官时【B.C.5年】,我向三十二万城市平民每人赠送六十狄纳里【合240塞斯特斯】。在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我曾从战利品中发给在殖民地定居的士兵每人一千塞斯特斯。这笔赠款是在我举行凯旋式时发放的,接受者约十二万人,分在各殖民地。在我第十三次任执政官时【B.C.2年】,我给当时接受国家发放食粮的平民每人六十狄纳里【合240塞斯特斯】,获得者二十余万人。

在我第四次任执政官期间以及后来在马尔库斯·克拉苏和格涅阿斯·林都拉斯任执政官期间【B.C.30年和B.C.14年】,我把一些自治市的土地划分给了我的士兵,为此,我向各自治市偿还了银钱。我为意大利人的地产所付出的银钱总数约六亿塞斯特斯;为行省的土地付出约二亿六千方塞斯特斯。到我为止,所有在意大利成行省为士兵建立殖民地的人,我是第一个,也是唯一的一个采取这种偿还行动的人。后来在提比略·尼禄和格涅阿斯·皮索任执政官期间,同样在盖约·安提斯提阿斯和狄西摩斯·利略,在盖约·喀尔文那斯和琉喜阿斯·帕西恩那斯,以及在琉喜阿斯·林都拉斯和马尔库斯·美塞拉和在琉喜阿斯·卡尼尼阿斯和昆图斯·费布利西阿斯等为执政官的期间【B.C.7、6、4、3、2等年份】,我让服役期满的士兵回返自己原籍,用现款向他们发放了退伍金:为此,我花费了约四亿塞斯特斯。

我曾四次用自己的财产资助国库,共向国库管理人拨款一亿五千万塞斯特斯。在马尔库斯·雷必达和琉喜阿斯·阿伦提阿斯为执政官时【A.D.6年】我从我自己的财库拨款一亿七千万塞斯特斯作为兵士退伍基金。这一军事金库是在我的建议之下建立起来的,目的为服役满二十年或更多年的士兵提供退伍金。

从格涅阿斯·林都拉斯和巴布利阿斯·林都拉斯为执政官之年【B.C.18年】起,任何时候行省税收不能收齐,有时缺少十万人的贡赋,有时更多,我总从我自己的粮仓和财库代为补齐应纳之粮和钱之数。

我修建了下列各种建筑物,元老院会堂和与之相逢的卡尔西迪大殿;帕拉丁山上的阿波罗神庙及其柱廊;神圣朱理亚庙,牧神龛,弗拉米尼竞技场的柱廊(我同意称这桩廊为“屋大维亚柱廊”,这是早先在这同一地点修建一个柱廊者的姓名),还有大竞技场的观礼台,卡庇托尔山上的“打击者朱庇特”和“雷神朱庇特”神殿,奎利努斯神庙;阿芬丁山上的米涅尔娃、天后朱诺和“解放者朱庇特”诸神庙;位于圣路起点的拉瑞斯【教育神】神庙,维利亚山头的佩那戴斯【家神】神庙,以及帕拉丁山上的青年神庙和大母神庙。

我花费了巨款重修了卡庇托尔大庙和庞培剧场但未将我的名字铭刻于其上。我修复了因年久失修而多处损坏的水道的引水管道,我还把一条新的源泉引入称为马尔西亚的水道,从而使其水量增加一倍。我还修完了我父亲开始修建并已完成大部分的朱理亚广场和位于卡斯特尔神庙和萨图恩神庙之间的大会堂。后来这大会堂被火焚毁,我扩大了地基开始重新构筑并准备把我诸子的名字铭刻于其上。如果在我有生之年这一建筑不能完成,我嘱托我的继承人把这项工程完成。在我第六次任执政官时【B.C.28年】我遵照元老院的决议,在罗马城修复了八十二座神庙,当时待修的神庙没有一座被忽略。在我第七任执政官时【B.C.27年】,我重修了弗拉米尼大道,从罗马城直到阿里密努姆,也重修了除穆尔维桥和米努齐桥外所有的桥。

在我私人的地产上,我用战争得来的钱修建了复仇者马尔斯神庙和奥古斯都广场。在大半是从私有土地者手中购买来的土地上,我修建了一个剧场和与之相连的阿波罗神庙并在上面刻上我女婿马尔库斯·马赛拉斯的姓名。在卡庇托尔,我用战争得来的钱向神圣朱理亚庙、阿波罗神庙、维斯塔女神庙和复仇者马尔斯神庙奉献了大量的礼物,花费了约一亿塞斯特斯、在我第五次任执政官时【B.C.29年】,我把为庆祝我凯旋而征集的加冕黄金三万五千磅归还给意大利诸自治市和殖民地民这之后,每当我再被授予英帕拉多称号时,我不再接受加冕黄金,尽管各自治市和殖民地仍以前此同样的热情决定贡献这种黄金【加冕黄金贡制源起希腊,罗马东征大将袭用之,初仅向东方省征收,帝国时遍及各省,为皇家财库的主要来源之一】。

我三次以我自己的名义,五次以我儿子或孙子的名义举办角斗表演,在这些表演中约有一万人参加战斗。我两次以我自己的名义,第三次以我孙儿的名义从世界各地聘请运动员为人民举行体育表演。我四次以自己的名义,二十三次代表其他官员举办各种赛会【指在剧场和竞技场的各种比赛】。在盖约·福尼阿斯和盖约·西拉那斯为执政官时【B.C.17年】,我作为十五人祭司团的团长,与我的同僚马尔库斯·阿格里巴一起,代表十五人祭司团,举办了百年大祭【ludi Saeclares,Secular Games,此处从《十二恺撒传》pp.66。A.D. 17年举行的大庆盛会遗留下一块巨大的石刻铭文,择细记载了此次大庆贺会的计划和要求,有奥古斯都的指示和元老院的法令以及大会主席团的命令等】。在我第十三次任执政官时,我第一次举办了马尔斯赛会【B.C.2年,军事竞赛】。此后执政官遵元老院决议和一条立法,在随后的年份,每年举行这种赛会。我二十六次以我自己的名义,或以我诸子诸孙的名义,在竞技场和圆形剧场举行追猎非洲野兽的表演,在此种表演中,约有三千五百头野兽被猎杀。

我在台伯河对岸,现在是凯撒园林的地方为人民举办了一次海战表演。为此,挖了一千八百英尺长,一千二百英尺宽的水域。在这次表演中有三十艘三列桨或二列浆的尖头战船和许多小船参加战斗。在这些船上,不算桨手约有三千名战士。

在我胜利之后,我把我的对手【指马可·安东尼】在战争中从亚洲省各城的神庙掠取供他私人使用的一切装饰物分别归还给该省各城的神庙。在罗马城中,有为我本人树立的或站立,或在马背、或在战车上的银质塑像约八十座,我把它们通通搬掉熔化,由此而得的钱财我用来以我自己的名义和为我树像者的名义向阿波罗神庙奉献金质礼品。

我镇压了海盗,给海上带来平静。在那次战争中【指对绥克斯都·庞培的海战,结束于B.C.36年】我把近三万名从其主人处逃跑并拿起武器反对国家的奴隶交还其原主去惩治。整个意大利于是自愿向我宣誓效忠,并要求我领导后来在亚克兴获胜的那次战争【指对马可·安东尼和克里奥帕特拉的战争。亚克兴战役在B.C. 31年】。高卢和西班牙诸省,阿非利加、西西里和撒丁等省也都举行了效忠宣誓。当时约有七百名元老站在我的旗帜下。在那之前或之后,直到我写此文件时为止,他们之中有八十三人得任执政官职,约一百七十人担任了祭司职。

我把罗马人民一切行省的边界都向外延伸了,在这些边界居住着臣服于帝国的各族人民【主要指西部各省。东方边界在奥古斯都时并不平静】。我使高卢和西班牙诸省恢复了和平,也使从加迪布斯(卡迪斯)到易北河口被海洋包围的广大日耳曼地区获得了和平。我使从近亚德利亚海地区起直到托斯卡海(第勒尼安海)为止的整个阿尔卑斯山恢复了和平,没有把不该进行的战争加给任何人民。我的舰队从莱茵河口向东在海洋上航行直达辛布累人的地界。以前没有任何罗马人从海上或陆上到过这个地方。辛布累人、卡里得斯人和塞姆诺内斯人以及该地的其他日耳曼人都派遣使节寻求与我和罗马人民建立友好关系【所指系提比略进军日耳曼尼亚直达易北河之役,对为A.D.5年】。在我的指挥和主持下,两支军队几乎同时开进了埃塞俄比亚和福地·阿拉伯;两个民族都有大批军人在战争中被歼,许多城镇被占领。在埃塞俄比亚,部队前进直达麦罗埃附近的那巴塔镇;在阿拉伯,部队进到萨白安地区的马里巴城【B.C.25-24年埃及总督埃利乌斯·伽卢斯进攻阿拉伯福地(也门)失败。B.C.21-22年,盖约·培特仑对埃塞俄比亚作惩罚性远征,得胜】。

我为罗马人民的帝国增加了埃及【在埃及女王克里奥帕特拉死后,B.C.30年】。当大亚美尼亚王阿尔塔克西亚斯被刺杀时,我本可以把它变成罗马的一个行省,但我宁愿按照祖先的榜样,通过当时我的继子提比略采取行动,把王国交给国王阿尔塔瓦斯德斯之子,老王提格拉尼斯之孙提格拉尼斯去治理。嗣后,此民族发生动乱和叛变,我儿盖约代我征服了他们,我将该王国交给米底之王,阿尔塔巴努斯之子阿里奥巴尔扎尼斯去治理。该王死后又把王国转给其子阿尔塔瓦斯德斯。后者被杀之后,我又派亚美尼亚王室子孙提格拉尼斯去治理该王国【奥古斯都继续采用共和时代已使用的在边疆建立小附属王国的政策。因为让土著酋王去治理边境小国比派罗马总督更为方便,也省力。这些小王国后来多并入罗马帝国。】。我收复了亚德利亚海以东一切行省以及当时大半在众小王酋掌握中的昔兰尼加行省以及前此收复的曾于奴隶战争中被占领的西西里和撒丁【可能指塞克斯都·庞培的占领】。

我在阿非利加、西西里、马其顿、两个西班牙省、亚该亚、亚细亚、叙利亚、那旁-高卢和彼西底亚【在小亚细亚半岛西南】建立了士兵殖民地。此外,我还在意大利建立了二十八个殖民地。在我生前这些地方已发展成著名而且人口繁茂的地方。

在西班牙、高卢和达尔马提亚等地战胜了敌人之后,我收复了以前其他将军失去的许多军旗。我迫使帕提亚人把他们以前从三个罗马军团夺去的战利品和军旗送还给我,并使他们不得不千方百计寻求与罗马人民建立友好关系【这些军期是克拉苏于B.C.53年对帕提亚的卡累战役中,和马可·安东尼在B.C.40年和36年对帕提亚用兵失败时丧失的。奥古斯都通过外交协商收回了军旗,挽回罗马人民的体面】。

在我成为元首之前,罗马人民军队从未进入过潘诺尼亚诸部落之地域;我通过我的继子提比略·尼禄将该诸部落征服并将之并入罗马帝国;我还将伊里利亚的边界扩展到多瑙河边。在我主持下,一支越过多瑙河来到我们此岸的达契亚人军队被击溃并歼灭了。嗣后,我的军队越过多瑙河迫使彼岸的达契亚部落服从罗马人的命令。

印度国王的使臣常被派遣来觐见我,前此他们从未觐见过任何罗马将军。巴斯塔尼人【又称培契尼人,Peucini】和斯基泰人以及住在顿河两岸的萨尔马太人,还有阿尔巴尼人,伊伯利安人和米底人等的国王都派遣使者来寻求我们的友谊【所提诸民族均分布在黑海以北和以东,从喀尔巴阡山到高加索一带】。

向我投奔的各民族的国王有帕提亚王提里达特斯和稍后的弗拉提斯老王之子,弗拉提斯;米底王阿塔瓦斯德斯;阿狄亚贝尼王阿塔薛西斯;不列颠王杜母诺白劳努斯和汀科米乌斯,苏刚布里人之王迈洛以及马可曼尼-苏维比人的国王西吉美鲁斯【此根据其他资料补】。帕提亚王欧洛狄斯之子弗拉提斯将其诸子诸孙均送来意大利我处。这并非出于他在战争中被征服,而是他自愿以子孙为人质寻求与我国友好。在我任元首期间,许多前此未与我们交换使节和友好往来的外族人都体验到罗马人民的良好信誉。

帕提亚人和米底人派遣其首要人物为使节从我接受他们所要求的国王:帕提亚人所接走的是国王欧洛狄斯之孙,国王弗拉提斯之子沃诺尼斯;米底人接走的是国王阿里奥巴尔扎尼斯之孙,国王阿塔瓦斯德斯之子阿里奥巴尔扎尼斯。

在我结束内战之后,经全国普遍拥护,我掌握了最高权力。在我第六任和第七任执政官期间,我将国家从我手中移交给罗马元老院和人民。因我的优行,元老院宣布授我以“奥古斯都”尊号,公开在我住宅的门柱上装饰了月桂枝叶,大门口钉上了市民花环;并且在朱理亚元老院会堂放置一面金盾,上面铭刻文字说明罗马元老院和人民因我勇敢、仁慈、公正和虔诚而授予我这种尊荣。从此,我的威望超过了一切人,但我在每一种职位上都不比我的同僚握有更多的权力。此处按照DY先生的建议修改。

当我第十三次任执政官时【B.C.2年】,元老院、骑士阶级以及全体罗马人民给我加上了“祖国之父”的尊号,并决定将此尊号铭刻于我住宅的前厅和朱理亚元老院会堂,也铭刻在元老院为给我以荣誉而树立于奥古斯都广场的战车的基座上。写此文件时,我年七十六岁。

李雅書根據英譯轉譯為中文

根據商務印書館《世界歷史資料叢刊》掃描,腳註改為隨文註釋

以下譯文按照拉丁文、英文譯文、中文譯文次序排列

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sao Việt Nam không có trứ tác đỉnh cao ?


Kình Văn :Dù trong văn học Nhật Bản hay Việt Nam, tác phẩm viết theo lối nào, thì cảm thức bi cảm rất quan trọng” ~ Vôn-như-lằn.

Triều Dương : Đứa nào viết ?

Kình Văn : Tụi Nhã Nam toàn trích bài từ Mương. (>”<) Rì-viu sách đấy. Vỗn lài !

Triều Dương : Yên tâm, mấy trang đó éo chấp, toàn bọn ngu lồn, viết văn như kẹc. Nên bảo sao NN ra mắt sách, trừ mấy cuốn nổi như Ngàn năm xú uế đi giới thiệu rầm rộ từ Bắc zô Nam, còn lại đều lên kệ và chỉ được thông báo hờ qua FB. Đám dịch giả có dám chường mặt ra đâu, cũng một phần chắc bị NN khinh vì cái thói ôm chân quỵ lụy, kế đến là biết mình ngu không nói được gì, không hiểu sâu, nên cứ âm thầm ra. Chứ học giới, sách ra tuy không mấy ai biết nhưng trong giới thì luôn hóng và đến dự. Có đứa dịch đến cả hơn chục quyển còn đéo được dòng nào trên mạng hay phỏng vấn cơ mà.

Kình Văn : Mà này…

Triều Dương : Hử ?

Kình Văn : Tụi Saudi có dòng văn chương đáng ngưỡng mộ phết đấy, sau này có thì giờ tụi mình sẽ điểm qua đám đó.

Triều Dương : Còn lâu, tỉ năm nữa.

Kình Văn : Mấy tác gia nổi danh tất nhiên là đều dạt sang Mễu cả.

Triều Dương : Không có văn bản không nói suông được.

Kình Văn : Vì sao Việt Nam không có tác phẩm văn học đỉnh cao ?

Triều Dương : Mje, Nhân Dân chửi đúng còn gì ? Đám kí giả ở đó cũng đéo xoàng đâu. Tại sao văn học Việt Nam không có tác phẩm đỉnh cao ?

Kình Văn : Ký giả Nhân Dân tôi gặp gồi mà, toàn sư tử làng báo. Văn học suy cho cùng là phải nói được hai điều tối thiểu : 1 là nỗi đau của con người, 2 là trào phúng chính con người, mấy thứ còn lại là râu ria thôi. Tôi quên chưa nói là cái link ND kia tôi lụm trong nhóm của tụi Trảm Phong Hội, chắc vẫn ý là muốn có cái gì đó để đem so với Nhật-Hàn-Hán, “của mình cũng ngon như của nó”.

Triều Dương : Hmm.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đại lược cổ văn Tây phương (kỳ 5)


Triều Dương : Aeneis Nhã Nam mới ấn hành bọn biên tập cũng ghi tên sai, theo âm Pháp mà đéo có dấu, cước chú cũng sai tên Neoptolemos con Akhilleus, và nhiều lỗi vặt khác. Nhà Huy Hoàng tôi ra thấy đầy sách cũng được Nhã Nam ấn hành, nhan đề tương tự nhưng khác mỗi bọn phát hành. Nhà Văn Học cũng đa cấp vl, vừa cho Nhã Nam xuất bản vừa bán quyền phát hành cho những thư quán khác. Nói chung, nát hơn cứt ~

Kình Văn : Dây nhợ vkl.

Triều Dương : Uh… Tôi có nguyên tác rồi, kệ mệ ông… khửa khửa. Mà dm, Merlin, Lancelot, Chén Thánh, Liệt vương sử, Cái chết của Arthur… mấy nhân vật đầu đều có những dị bản tìm Chén Thánh riêng. Vậy nó cũng có hệ thống chứ đéo hẳn là ngẫu nhiên biến tấu.

Kình Văn : Vấn đề ở chỗ, ẩn bên dưới là triết lý nhà thờ. Sau này thậm chí tôi và ông mỗi đứa có cách soạn Arthur riêng.

Triều Dương : Cái nội hàm thì đều rõ rồi, nhưng dòng văn chương này nổi ở Anh và Pháp, Đức sau này hú họa thôi. Nên ông coi nó là văn hóa Anglo-Franco thì OK. Chứng tỏ văn hóa La Mã thần thánh cũng cùi, văn chương phát triển như sên, mà triết toàn những thằng điên.

Kình Văn : Văn chương càng mạnh thì ẩn ức mới càng được giải tỏa mà. Chứ dm văn chương trung thế kỷ của Đức và Bắc Âu toàn phù thủy, tu sĩ hắc ám với tử thần.

Triều Dương : Trứ tác Arthur của Sir Malory và các dị bản Lancelot, Merlin cùng chủ đề Chén Thánh quá đồ sộ nếu so với cái nền tảng văn hóa thời bấy giờ. Thậm chí ông tin không, lão Chrétien de Troyes là một dạng ngâm du thi nhân, tức hát rong kiêm kể truyện, chính mấy lão này kiến tạo truyền khẩu bồi đắp dần.

Kình Văn : Thì quá rõ rồi. Lớp người này rất phổ biến trong hình thái xã hội nghèo nàn phương tiện truyền thông, chính họ là chất kết dính cho sự hiểu biết, nhưng với lịch sử thì họ không quan trọng.

Triều Dương : Thậm chí Ngài Mallory khả kính còn phải dựa vào Chrétien để sáng tác Arthur phiên bản Anh. Trouvère cũng là hát rong nữa, còn thân thế tôi không rõ, ai cũng mù mờ hết. Robert de Boron cũng có ba phần về lão phù thủy Merlin dạng tản văn. Mẹ kiếp, dòng văn chương kị sĩ còn biến tấu Alexandros thành một cuộc phiêu lưu riêng, mang đậm văn hóa sơ-trung kỳ trung đại mà.

Kình Văn : Hồi đó chỉ Tây Âu sớm bước vào văn hóa nhàn rỗi thôi, mà dòng truyện kị sĩ và trào phúng là điển hình. Chứ Bắc Âu chưa có văn chương, Đông Âu thì vẫn truyện chiến binh đậm màu thần thoại.

Triều Dương : Nên sơ-trung kỳ trung thế kỷ phải đặc biệt lưu tâm thể loại này, vì không ngẫu nhiên mà các nhân vật đó được xây dựng. Bắc Âu có Edda gồm vận văn và tản văn toàn Odin với Thor, cái này thì Iceland với Mọi Vikingr đều truyền khẩu. Giáo hội thì có duy trì kịch với nội dung Tân Ước.

Kình Văn : Sau này Bắc Âu cũng bị nhiễm thần thoại phương Nam nhiều, tức là có thêm tính Hi-La một chút, Công giáo một chút. Nên thần thoại Bắc Âu tôi vẫn cho là đang trong quá trình tiến hóa.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những kinh thành qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Nước ta từng đặt kinh thành ở nhiều nơi. Kim Hải từng là kinh thành của Kim Quan quốc, Thượng Châu là kinh thành của Sa Đại quốc, Nam Nguyên của Đái Phương quốc, Giang Lăng của Lâm Doanh quốc, Xuân Xuyên của Uế Mạch quốc. Tất cả các kinh thành ấy đều tọa lạc những vùng đất nhỏ như làng ngày nay nên khó kể hết được.

Khánh Châu còn được gọi Đông Kinh, là kinh thành ngàn năm của Tân La quốc. Được bao bọc bởi núi sông điệp trùng, là nơi phì nhiêu, nhưng chỉ có vùng Giao Xuyên trồng cấy được, còn lại không màu mỡ gì. Bình Nhưỡng do Cơ Tử sáng lập cai trị bằng quy chế tỉnh điền với tám điều cấm còn lưu đến giờ, chỗ ấy nay là ngoại thành. Sau có Vệ Mãn từ Yên quốc chiếm được Bình Nhưỡng và lập làm kinh đô Cao Câu Ly quốc. Mạn Nam là Hán giang và mạn Bắc là Liêu hà, Cao Câu Ly là nước cường thịnh nhất bấy giờ với hàng vạn binh sĩ. Triều Cao Ly đã chọn nơi này làm Tây Kinh để lui tới du ngoạn vào mua xuân và mùa thu. Quốc gia cường thịnh như ngày nay cũng nhờ được hưởng di sản thời Cao Ly. Ở Vĩnh Minh tự có Kỳ Lân quật, Triều Thiên thạch và Cửu Thê cung của Đông Minh vương. Vĩnh Sùng điện chính là Sùng Lạc cung, Trấn sơn ở Bình Nhưỡng chính là Cẩm Tú sơn, đỉnh núi cao nhất là Mục Đan Phong, nhưng dãy này gồm nhiều ngọn thấp nên không trang nghiêm như Chủ nhạc ở Tùng Đô và Hán Đô. Phía Bắc không có nguồn nước nên dịch bệnh từ Mông Cổ luôn tràn vào, phía Nam tuy sông ngòi dày đặc nhưng từng có Diệu Thanh cát cứ làm phản, đấy là thời gian khó của xã tắc. Cổng thành cao rộng, phía Đông có Đại Đồng và Trường Khánh môn, phía Nam có Hàm Cầu và Chánh Dương môn, phía Tây có Phổ Thông môn và phía Bắc có Thất Tinh môn. Trong tám đô thành chỉ có chốn này được gọi Đại Đô và có thể sánh với mọi kinh thành khác. Hướng về phía Đông chừng mươi dặm, dưới chân Cửu Long sơn có An Hạ cung nhưng không ai biết nó được dựng từ khi nào, có lẽ đây là mật cung.

Thành Xuyên là kinh đô của Tùng Nhưỡng quốc, Giang Đông xưa là Nhưỡng quốc, thế đất tuy nhỏ nhưng có nhiều sông núi. Long Cương sơn thành rất trang nghiêm, nay vẫn còn. Đây cũng gọi Long Quan quốc nhưng không hiểu sao người ta đặt thế. Phù Dư là kinh đô của Bách Tế, nay trong Thán Hiện còn vẹn nguyên vết tích của Bán Nguyệt thành. Bạch Mã giang từng được dùng làm chiến hào nhưng rất nhỏ hẹp không là nơi nương náu của đức vua được, nên ngài mới bị Tô Định Phương đánh giết. Toàn Châu từng có Chân Huyên cát cứ, nhưng chẳng bao lâu phải quy phục Cao Ly. Đến nay vẫn còn cố đô Cao Ly là Di Phong.

Thiết Nguyên là nơi Cung Duệ cát cứ và xưng Thái Phong quốc, nay còn dấu thành quách và bậc thang của các cung điện. Dịp xuân về, muôn hoa đua nở khiến cảnh nơi đây rất đẹp. Địa hình hiểm trở, sông ngòi thì đan dày. Đây cũng là nơi họ Vương đã định đô và trị quốc trong khoảng năm trăm năm. Cốc Phong là dãy núi xung yếu trải khắp vùng này, bao trọn đất Thiết Nguyên khiến chỉ vài mỏm núi nhỏ cũng thành khu biệt lập. Từ sau triều Cao Tông, kinh đô được dời đến Giang Hoa, nhưng đó là đảo nhỏ giữa bể khơi nên không xứng là quốc đô. Đức Thái Tổ ta khi khai quốc đã quyết ý dời đô, ban đầu ngài xem xét địa thế phía Nam của Kê Long sơn và định đặt đô ở đó, nhưng không lâu sau ngài dời về Hán Dương. Các thuật giả nói rằng : “Từ xưa đã có hòn Khổng Nham ở trước mặt, phía Tây lại có Tam Giác sơn và Nghênh Thự dịch, thật là thế đất đẹp”. Nhưng sau, tra xét kỹ lại phán rằng : “Toàn vùng Hán Dương đều là núi trổ ra ngoài, phía Nam của Bạch nhạc và phía Bắc của Mộc Mịch sơn mới thật đế vương vạn thặng”. Còn thiên hạ lại bảo rằng : “Tùng Kinh được bao quanh bởi sơn cốc nên có nhiều thần tử ương ngạnh. Chứ Tây Bắc của Hán Đô thì cao, phía Đông Nam lại mỏng mảnh, nên mới khinh trưởng chuộng thứ. Cho đến giờ, các vua kế nghiệp như Danh Công và Cự Hương đều là con thứ cả”.

我國設都邑處非一也。金海爲金官國。尙州爲沙代國。南原爲帶方國。江陵爲臨瀛國。春川爲穢貊國。皆彈丸之地。而各據其境。如今之小邑者不可勝數。慶州爲東京。新羅一千年所都。山川回互。土壤膏沃。惟蛟川一曲可遊。餘無奇勝之處。平壤箕子所都。八條爲治。井田之制歷歷猶存。今之外城是也。其後燕人衛滿所據。又爲高句麗所都。其國境南至漢江。北至遼河。擁兵數十萬。最爲强盛。高麗置爲西京。春秋往來。以爲巡遊之地。至今人物富庶。皆其餘風也。永明寺卽東明王九梯宮。麒麟窟朝天石在焉。永崇殿卽高麗長樂宮之基。都之鎭山曰錦繡山。最上峯曰牡丹峯。皆培塿非如松漢都主嶽之壯峻。北面無水。蒙兵得以長驅。南面帶江。妙淸據城而叛。其所恨也。城門究大。樓閣高亢。東有大同長慶兩門。南有含毬正陽兩門。西有普通門。北有七星門。八都之中。惟此都與大都相甲乙。東十里九龍山下有安下宮基。不知何代所造。疑是別宮也。成川爲松壤國。古江東爲壤國。雖地勢狹隘。而有山水之勝。龍岡山城最壯。至今屹然不頹。該稱龍官國。不知所據也。扶餘爲百濟所都。炭峴之內。半月城基猶宛然。雖以白馬爲塹。狹窄淺露。非王者之居。蘇定方得以滅之。全州爲甄萱所據。不久降于高麗。至今有古都遺風。鐵原爲弓裔所據。稱泰封國。至今有重城古基宮闕階級。春則花卉亂發。地危勢阻。而江河漕轉爲難也。惟松都爲王氏興王之地。五百年基業所固。鵠峯爲主嶽。支分股散。山勢周遭。雖培塿之微。皆作區域。水泉淸潔。坊坊曲曲。皆有可遊處。高宗以後。移入江華。此是海中小島。不可稱爲都邑也。我太祖開國。有移都之志。先相地于鷄龍山之南。已審京邑規模。未幾而止。更定鼎于漢陽。術者云。古有孔巖在前之語。三角山西迎曙驛坪。直爲美壤。後更相之。皆山外背走之勢。不如白岳之南木覓山之北。爲帝王萬乘之地。與天無極矣。諺傳。松京山谷環抱。有包藏之勢。故多權臣跋扈者。漢都西北高而東南下。故長子爲輕。支子爲重。至今大寶相承。名公鉅卿。率多支子也。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Con Tấm con Cám


Sau đây là nội dung truyện kể ở miền Nam ghi được tại Mỹ Tho năm 1886.

Có hai vợ chồng sinh hai cô Tấm và Cám, sinh đôi. Tấm được bố mẹ chăm nom chiều chuộng rất mực, còn Cám thì bị đối đãi như tôi đòi. Một hôm người cha cũng giao cho mỗi con một cái giỏ, bảo đi bắt cá, ai bắt được nhiều hơn thì được gọi bằng chị. Cám được nhiều hơn, nhưng Tấm bảo đưa giỏ cho mình giữ hộ để đi hái rau thơm về kho cá. Cám trở về thì bao nhiêu cá đã bị Tấm lấy mất chỉ còn một con bống mú. Do đó Tấm được làm chị. Cũng như truyện kể ở miền Bắc, Cám được thần hiện lên bày cho cách nuôi cá bống mú, nhưng nuôi được ít lâu cá cũng bị Tấm tìm cách bắt ăn thịt. Thần hiện lên bày cách bỏ xương cá vào hũ chôn xuống đất, sau sẽ được nhiều vật quý. Một con gà cũng mách cho Cám chỗ vùi xương bống. Sau ba tháng mười ngày, Cám đào lên quả được áo quần đẹp và một đôi giày. Một hôm Cám đem giày đi ra đồng bị ướt, phải đem phơi, bỗng một con quạ cắp mất một chiếc đem bỏ vào cung vua. Hoàng tử bắt được cho rao mời đàn bà con gái mọi nơi về thử, ai đi vừa sẽ lấy làm vợ. Tấm được bố mẹ cho ăn mặc đẹp trẩy kinh, còn Cám thì phải ngồi nhặt một mớ đậu và vừng trộn lẫn. Thần cho bồ câu đến giúp (có người kể con quạ lần trước tha giày đến bày cho Cám cách sàng để nhặt được nhanh). Sau đó Cám đến kinh thử giày, và trở thành vợ hoàng tử.

Một hôm, Cám nghe tin bố đau nặng bèn về thăm. Thật ra Cám bị lừa, dưới giường chỗ bố nằm có để nhiều tấm bánh đa nướng để khi trở mình nghe tiếng răng rắc. Cám tưởng bố gãy xương thương lắm, khóc rưng rức. Rồi Cám cởi áo trèo cau theo lời bố. Cây cau bị Tấm chặt gãy, Cám rơi vào hố nước sôi chết. Nhờ có mặt mũi giống Cám, Tấm mặc áo quần rồi vào cung mà không ai biết, kể cả hoàng tử, nhưng hoàng tử ngày một nguội lạnh với Tấm. Cám hóa thành chim quành quạch, và cũng như truyện kể ở miền Bắc, chim bay vào cung gặp Tấm đang giặt áo. Chim cũng nói câu “Phơi áo chồng tao…” và sau đó cũng được hoàng tử đem về nuôi ở lồng. Tấm cũng bắt chim ăn thịt và nói rằng mình có mang thèm ăn thịt chim. Chỗ vứt lông chim mọc lên một măng tre, sau đó bị Tấm chặt làm thức ăn. Vỏ măng hóa thành một cây thị chỉ có mỗi một quả, mỗi lần hoàng tử ở nhà thì cành lá xòa xuống thấp, nhưng khi đi vắng thì cây vươn lên cao vút, vì thế Tấm muốn hái thị ăn mà không được. Sau đó thị rơi vào bị một bà lão ăn mày. Tiên nữ trong quả thị cũng nhiều lần hiện ra giúp bà lão, sau cùng bà lão cũng rình bắt được, bèn xé nát vỏ thị.

Một hôm, Cám hóa phép làm cỗ bàn rất linh đình để dọn cúng chồng bà lão, nhưng lại ép nài bà đi mời hoàng tử tới dự. Hoàng tử đòi phải có thảm trải từ cung đến nhà mới chịu đi. Quả có thảm trải thật, lại có cả miếng trầu têm rất đẹp làm hoàng tử chú ý, hỏi thì bà lão nói dối là mình têm. Hoàng tử bảo bà thử têm cho mình xem. Cám hóa làm con ruồi vẽ cho bà cách têm, nhưng khi hoàng tử đuổi ruồi thì bà lão lại không têm được, đành phải thú thật là do con gái mình têm. Nhờ đó hoàng tử gặp lại vợ cũ.

Đoạn kết, cô Tấm hỏi Cám làm sao lại đẹp. Cám nói nhờ ngã vào hố nước sôi. Tấm nhảy vào nước sôi mà chết. Cám liền làm mắm gửi cho dì ghẻ, dì ghẻ cũng khen ngon, rồi cũng có con quạ đến mách và bị đuổi. Khi ăn gần hết, thấy đầu lâu con gái mẹ Tấm lăn ra chết.

Lê Quang Thanh Tâm

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.

Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.

Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.

Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…

Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…

Ngôi trường của những giai nhân

Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.

Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Viên Thị Thuận. Ảnh: Diệu Bình

Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.

Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.

Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942. Ảnh: Nguyễn Lân Bình cung cấp

Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…

Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.

Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.

Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.

Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.

Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.

Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.

Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Trang lưu bút bà Thuận viết cho người bạn học ở trường Đồng Khánh. Ảnh Nguyễn Lân Bình cung cấp

Theo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.

Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.

Giai nhân tiết lộ sự thật về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.

Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.

Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.

Hà Nội xưa, giai nhân Hà thành, danh nhân thế kỷ 20, nữ sinh Đồng Khánh
Bà Thuận lần giở những bức ảnh cũ lưu trên ipad. Ảnh: Diệu Bình

Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.

Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.

Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.

Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.

Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.

Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…

Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Sứ (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

Gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

Trước khi về lấy chồng, ngày chia tay các bạn, bà bịn rịn hồi lâu rồi đọc bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” để bày tỏ nỗi niềm của mình về một cuộc hôn nhân không có tình yêu.

Dù là cuộc hôn nhân qua mai mối nhưng dường như cuộc đời bà Sứ lại vô cùng hạnh phúc. Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80.

Categories: ♥♥ Văn chương chí | %(count) bình luận

Ông Vũ Sưởng


Trong năm Cảnh Hưng, hoàng thái tử bị phế, phải giam ở dinh viên nội thần Thiều quận công. Trúng thức Vũ Sưởng là chắt cụ thám hoa Vũ Thành, hậm hực đau đớn, bèn rủ họp bọn nghĩa sĩ mưu toan phản chính. Việc bại lộ, bị đem hành hình ở bến Đông. Những người thân thuộc và bạn bè đều phải nín hơi không dám đến thăm hỏi. Duy có giám sinh Nguyễn Liên người làng Bỉ Khê huyện Lương Tài đem rượu đến cùng ông Sưởng quyết biệt. Ông uống say, rồi làm bài thơ tặng Liên, có câu rằng : “Nhất thân tự nhậm cương thường trọng”. Nguyễn Liên lo việc tang chu tất.

Năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống, ông được truy tặng tước vương và đứa con nuôi tên Hiệu được phong quan, triều đình còn bàn lập đền để tinh biểu. Năm Kỷ Dậu đổi ngôi vua, Hiệu theo vua cũ sang Yên Kinh rồi mất ở đấy, có đứa tớ đem tin về.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: