❀ VĂN SỬ

風化·歷史

Truyện ông Lot


Triều Dương : Chính phủ mới của Pháp có mức tín nhiệm thấp nhất trong 20 năm ~ “Kết quả thăm dò của Elabe cho thấy sự tương đồng với kết quả của hãng Harris Interactive vào ngày bầu cử, khi 59% cử tri bầu cho ông Macron nói rằng họ làm vậy chỉ vì muốn ngăn bà Le Pen đắc thắng“. Dm vl ~ 😄

Kình Văn : Hai thằng chó mặt hãm tài đéo chịu được.

Triều Dương : Nhìn chán vl ấy ! Bầu chỉ vì không muốn Le Pen lên, nhưng cũng đéo tin tưởng gì thằng ranh này. Ông thấy đấy, đám đông đéo bao giờ có thể tin được.

Kình Văn : Khi dân chúng thờ ơ với chính trị, thì đó là lúc xảy ra những cuộc thanh trừng đấy. Nói theo Thánh Kinh là đại hồng thủy ; như là : Suy thoái kinh tế, dịch bệnh, hoặc những vụ xả súng, hoặc bạo loạn, hoặc chiến tranh, hoặc thảm sát… Ông bố khiến Trấn Thành bật khóc bị tố dối trá trên truyền hình ~ Dm, giờ TV-shows lột mặt trái rồi đấy, toàn những thứ dối trá.

Triều Dương : Vốn dĩ nó là thứ kiếm tiền, tôi chẳng tin gameshows từ lâu lắm rồi.

Kình Văn : Đệk mệ ! Đéo tin lổi, nạnh như mùa đông.

Triều Dương : Chịu khó đê.

Kình Văn : Nầy hỡi con cái của Israel, đêm qua tôi đọc lại truyện ông Lot. Hóa ra biển Chết có tên gọi hiếm hơn là “Sea of Lot” ông ạ. Là tại vì, từ Yehudah sang Sodom phải băng qua đó, mà biển Chết có nồng độ Muối nhiều nhất vũ trụ, cho nên bà vợ ông Lot mới Chết và hóa tượng Muối. Vả, hai đứa gái con ông Lot sinh ra hai người là Ammon và Moab, tức là hai sắc tộc ở bờ Đông biển Chết.

Triều Dương : Sau này thì đó là tên hai bộ lạc.

Kình Văn : 9-xác ! Ammon và Moab giống như là đọc ngược nhau vậy.

Triều Dương : Sông Yarden, Pillar of Salt. Tại sao lại là cột muối, tôi nghĩ mãi tối qua.

Kình Văn : Sự thật thì không có thành Sodom nào cả, nó là khối núi đá muối, có lẽ chính nó đã tạo ra vị mặn khủng khiếp của biển Chết. Đá muối có ở Lào và Tây Nguyên mà, chứ ở hai nơi đó làm gì ra biển lấy muối được. Ông thấy sức suy tưởng đáng nể của đám tu sĩ Yehudah chưa ?

Movements of the African rift system, along with the pressure generated by the slow accumulation of earth and rock, pressed down on the layers of salt, creating Mount Sodom.

Triều Dương : Đám Yehudah nói làm gì !?

Kình Văn : Thế nên khi tách các lớp màng Thánh Kinh ra, tụi mình có sự tổng quan về bối cảnh Israel cổ đại.

Triều Dương : Cựu Ước là lịch sử của người Do Thái, cũng như Ilias và Odysseia ấy. Nhưng vốn dĩ Cựu Ước không chỉ riêng Do Thái, mà cả Cận Đông – Lưỡng Hà – Ai Cập đều được đề cập, Thiên Chúa tách nước ra làm Tigris và Euphrates. Dm, nói chung có nhiều lớp trầm tích lắm.

Kình Văn : Thậm chí có cả Ilias và Aeneis. Cũng là đám đông không tin tưởng, sỉ nhục người tiên báo và rồi hầu hết phải chết trong đại họa.

Triều Dương : Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng bừa bãi bỏ mje. Thấy nhân loại xây thành phố thì khiển chúng nó không thể nói cùng ngôn ngữ được nữa, tháp Babel ấy. Cái tên không thống nhất giữa các bộ lạc, rồi chia chúng ra từng vùng khác nhau. Cuối cùng là thành phố ngừng xây, còn mỗi tháp Babel sừng sững. Vốn dĩ cũng chẳng khác thời Ilias và Odysseia, khi con người sống cùng với các vị thần, các vị thần can thiệp như giáng thiên tai dịch họa để trừng phạt là thường. Vùng Kanaan nhìn chung như cái nồi lẩu thập cẩm, đủ các tín ngưỡng tông giáo ngôn ngữ sắc tộc.

Kình Văn : Nhân vật “Thiên Chúa” của Cựu Ước là “chép” Zeus của Hi Lạp chắc rồi, hoặc một Thiên Chúa của đám Phoinike.

Triều Dương : Dĩ nhiên. Hành xử bừa bãi thế thì chỉ tương ứng Zeus hoặc Iupiter thôi. Cứ phân tích dần Homeros, Hesiodos, Vergilius, Ovidius và Thánh Kinh sẽ thấy rất nhiều điểm tương đồng.

Kình Văn : El trong tiếng Phoinike là phiếm chỉ các vị thần.

Triều Dương : El sau này có thể là Allah và mấy cái danh xưng Amorite hay Akkad cũng như thế, nhìn chung là sau này đều quy lại một đấng tối cao. Tiếc là văn hóa Phoinike cũng còn tương đối mới mẻ với tôi, chỉ tạm biết là chúng nó chuyên đóng thuyền và vận chuyển lương thực binh sĩ cho Ba Tư đánh Hi Lạp. Nói chung, người La Mã cũng chỉ biết đến Phoinike qua Kartajen.

Kình Văn : Ancient Semitic religion

Sin (the Moon)
Shamash (the Sun)
Marduk (Jupiter)
Ishtar (Venus)
Ninurta (Saturn)
Nabu (Mercury)
Nergal (Mars)

Triều Dương : Đấy, biết ngay El và Allah có dính đến nhau.

Kình Văn : Marduk là thần được đám Babili sùng kính nhất. Elohim thì na ná như Abram.

Triều Dương : Ba Tư thì có Ahura Mazda, được đặt tên cho xe Mazda sau này.

Kình Văn : Đám này có thể gọi chung là Semit, nhưng tôi nghĩ nên gọi là Kana’an. Tức là gồm Ba Tư, Ả Rập, đám mọi quanh biển Chết, thậm chí có thể gồm Hi Lạp và Ai Cập. Cũng đéo hiểu sao cái xứ cằn cỗi bé tí đó lại đột ngột văn minh thế, hết Phoinike lại đến đám Yehudah.

Triều Dương : Arab ngày xưa cũng là Semite, nhưng Semite thường chỉ các sắc tộc nói ngôn ngữ Semite thì đúng hơn. Lưỡng Hà cũng phần nào đó ảnh hưởng, và thậm chí bị ảnh hưởng từ Kanaan. À mà dm, hôm qua đọc Genesis. Có nhắc đến Sidon là hậu duệ mấy đời của Noah, sau này Sidon là một trong năm thành bang của Phoinike.

Kình Văn : Thế ông ta có ghé Việt Nam không, là tổ phụ của vua Việt nào không ? 😝

Triều Dương : Có, thủy tổ của Toàn Sida. Thậm chí có thể nói rằng Aeneas đã đánh nhau với Châu Văn vương, vì dù sao hắn cũng là con rơi của Aphrodite, sau này lại được Ivlivs Caesar tôn làm tiên tổ. He-he… 😜

Kình Văn : Có lẽ sau khi Christ leo cột chơi dây, Magdalena đã lang chạ với vài thằng khác để sau này có hậu duệ qua Saigon chế tạo Magdalina Truồng, và giờ đàng hoàng làm thánh mẫu của băng Đại Đạo Trảm Phong. Ôi tự hào vỗn cả lài ~

Triều Dương : Địa cầu nhỏ bé lắm, trung tình sang tận An Nam cũng là lẽ thường tình. Maria đổ vỏ cho Ioseph, đéo biết sau này em Magdalina có đổ vỏ cho ai nữa không, túng thì dễ bạnh háng ra thôi. Bóc bánh trả tiền, giao dịch thành công, đề nghị quý em kiểm tra tài khoản để xác nhận. Mấy cái tích dong buồm ra đái, ý lộn, ra khơi lưu vong viễn xứ, rồi thành vua nơi nao, hương của gió chẳng kém Lý Dương Côn – Lý Long Tường – Lý Đăng Hiền. Nếu tên Brvtvs ất ơ nào đó còn được nhận làm quốc tổ Anglo, thì lý do đéo gì Lý Long Tường không thể thành tiên tổ của mấy nhánh họ Lý Chô Sơn.

Kình Văn : Thôi hỡi người anh em, hãy ngưng khóc cho kiếp tha hương khất thực của gái Magdalina Truồng !

Triều Dương : Yên chí là vụ cưỡng gian Lucretia sẽ sớm tái hiện thôi. “Đẻ con khôn mát l** rười rượi ; Đẻ con dại thảm hại cái l**” ~ Dm, Aeneas được cái l** thánh linh của Venus phọt ra thì khí chất ngời ngời, trong khi Magdalena tổ mẫu của Magdalina Truồng chắc cũng là một thứ ủy an phụ của Iesous. Hớ-hớ-hớ…

Kình Văn : Magdalena với Juda thì mới ra loài lăng loàn như Magdalina Truồng. 😄 Mà dm thằng khốn Nguyễn Văn Hiệu, tôi đang rất-rất muốn bắn chết nó, xong cạo đầu thuộc da làm giày nhằm sáng danh đức Chúa. Tôi đã không dưới hai lần cảnh báo nó về cơn hồng thủy sắp diễn ra, nhưng nó vẫn ra sức thể hiện bản thân như một con đĩ tân tự do ba xu. Thằng chó này đáng phải nhốt vào Sodom.

Triều Dương : Nguyễn Văn Hiệu dù sao cũng kiệt sức rồi. Giờ khoe hàng mãi, nhưng cũng chỉ nhai đi nhai lại như con bò cái. Sắp chết rồi vẫn tưởng mình tốt mã lắm.

Kình Văn : Bây giờ đem cả ông bà ông vải ra khoe “cổ phong” nhà mình cũng bằng “cổ phong” nhà nó. Thằng này đùa tinh tế quá !

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hai gã cùng bàn, không kể những thằng ngu


Nguyễn Phúc Anh : Vấn đề nghiên cứu sử học hiện nay em thấy ở Việt Nam là mọi người vẫn bị kẹt mãi trong câu chuyện chân/ngụy, thật/giả. Em nghĩ sử học nên đặt những câu hỏi khác sớm.

Trần Trọng Dương : Vẫn phải làm những việc đó, và làm song song! không chắc về sử liệu học là chết đấy! Nhân học cũng có cách làm sử liệu học riêng, điều đó em quá biết! Chứ cứ hồn nhiên mà phỏng vấn/ điều tra/ tham dự sâu, rồi tin tuyệt đối vào đó thì toi ah? Có nhiều ngành khoa học, và mỗi ngành khoa học có chức năng riêng, giải quyết những câu hỏi riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng. Cho nên, nếu nghiên cứu về thời Lê Thánh Tông mà cứ tin là Hồng Đức QATT là hàng ngon tuốt thì chỉ có chết! Dù là văn học, hay tư tưởng, hay sử học, văn hóa học,…mà không biết sử liệu học hay rộng hơn tư liệu học thì sớm muộn cũng chết thôi! Giám định xong mới đặt những câu hỏi khác! Còn không giám định được thì đặt biển báo (mìn chưa gỡ) đừng có đụng vào! Không biết đó là mìn mà đem vào khò là toi!

Nguyễn Phúc Anh : Không anh, em không bảo nó không cần thiết. Quan trọng trong thực hành nghiên cứu lịch sử là giải thích tiến trình hình thành quan điểm, “sự thực lịch sử” đó chứ không phải chỉ ra nó chân/hay nguỵ. Nếu chúng ta thừa nhận không có sự thật lịch sử thì tại sao ta phải cố chứng minh rằng cái sự kiện này là đúng hay sai?

Trần Trọng Dương : Anh đang nói là sử liệu (văn bản), chứ không phải là sự kiện Hàn Thuyên làm văn. Cái ngưỡng để tránh “tuyệt đối hóa” sử thực, và phủ định hoàn toàn khả năng nhận thức lịch sử là vô cùng phức tạp! Ví dụ, vụ bia Đường Lâm mà anh và Phạm Lê Huy đến nay vẫn chưa giải quyết xong, chưa nhất trí được! Anh cũng cho là “không có LS tuyệt đối toàn diện như nó đã từng xảy ra”, nhưng ta lại có mà là “có nhiều hiện vật lịch sử”, “sự kiện lịch sử”, “văn bản lịch sử” và “nhân vật lịch sử” và nhiều cách diễn giải lịch sử. Trước đây, anh có nghĩ đến việc bằng cách nào có thể phân biệt, một ông Hùng Vương và một ông Lý Thường Kiệt?

Nguyễn Phúc Anh : Về trường hợp Trần Văn Quyến hỏi, có lẽ nếu là em, em sẽ tìm hiểu và đưa ra lý giải CỦA EM về câu chuyện Nguyễn Thuyên, từ một vài dòng được chép trong chính sử được diễn dịch theo hướng quốc gia chủ nghĩa thế nào ở thời kỳ hiện đại. Cũng có thể nghiên cứu về văn hoá đặt tên họ, ban họ tộc thời đó. Cũng có thể nghiên cứu về ý thức di sản và sự hình thành lịch sử dưới thời thực dân. Đồng thời cũng có thể nghiên cứu về mẫu hình trí thức Hoa Hạ và việc tạo dựng mô hình trí thức Việt Nam thời cổ. Và cũng có thể nghiên cứu về ma thuật, lịch sử ma thuật, lịch sử tự nhiên thời đó. Có hàng ngàn cách đặt câu hỏi, bao giờ những câu chuyện chân/ngụy kiểu thế kỷ 19 này mới chấm dứt? Mình tiếp nhận sử liệu theo cách nào thôi anh, đúng là mọi thứ đều có thể dùng làm sử liệu. Kể cả truyền thuyết. Nhưng vấn đề là đặt câu hỏi gì và dùng nó để trả lời câu hỏi như thế nào thôi anh.

Trần Trọng Dương : Vì ta chưa làm hết việc giám định văn bản của thế kỷ XIX nên giờ vẫn phải làm! Không thể dùng đối tượng của ngành này để phủ định ngành khác được đâu. Giống như trước đây có nhiều người cười khẩy ông Dương với ông Nguyễn Tuấn Cường chỉ biết ngồi đếm chữ Nôm, thống kê ngôn ngữ mà không biết làm gì ấy văn vẻ hơn, nhiều người đọc hơn! Không thể dùng quan điểm của ngành ngôn ngữ học, văn học, văn hóa học để chê ngành văn tự học, hay văn bản học được, (việc này anh đã nghe nhiều rồi). Ví dụ ở phần STT anh đã viết đấy, bây giờ mà còn có ai đem Binh Thư Yếu Lược ra tán về ông Trần Quốc Tuấn, hay dùng Nam Quốc Sơn Hà mà bốc phét về ông Lý Thường Kiệt, là đáng ăn chửi! Giám định văn bản học vẫn là một ngành khoa học độc lập, để cho các ngành khác kế thừa, chứ nó đâu có vô giá trị hoàn toàn! Các câu hỏi về tôn giáo (ví dụ tế cá sấu thời Trung đại) là thuộc về ngành khác!

Nguyễn Phúc Anh : Giám định văn bản học không nhằm mục đích để tìm ra văn bản đáng tin hơn. Bản thân nó không phải là ngành khoa học. Nó là một thao tác khoa học, thao tác xử lý tư liệu. Nhờ vào thao tác này một nhà nghiên cứu có thể thiết lập những lý giải của mình về lịch sử, đem đến cho người đọc một cảm giác về sự đáng tin, nghiêm túc và tận gốc rễ của nghiên cứu lịch sử đó. Và nhờ thế nghiên cứu lịch sử đó trở nên đáng tin hơn, theo tiêu chuẩn “đáng tin” của thời đại nhà khoa học đang sống. Theo em là vậy anh ạ.

Trần Trọng Dương : Đây nhé, 3 tập của Thiên Nam Dư Hạ đã được giám định là hàng fake. Nếu có thể viết gì về nó là viết từ góc độ lịch sử của sách face, lịch sử của sử liệu fake. CẤM DÙNG! Em hỏi Ruan Song xem. Kết luận của ông ấy đây : “Như vậy, ba tập II, III, IV của bộ Thiên Nam dư hạ tập rõ ràng là một sản phẩm giả mạo, được ngụy tạo nhằm một số mục đích mà theo chúng tôi có lẽ chủ yếu là để ‘trục lợi’. Chúng ta được biết rằng, đầu thế kỉ XX, Trường Viễn đông Bác cổ đã cho thuê sưu tầm, sao chép nhiều văn bản Hán Nôm Việt Nam. Để kiếm lợi, nhiều người được thuê đã làm giả nhiều tài liệu. Bộ Thiên Nam dư hạ tập thuộc số đó. Ngoài ra, cũng có thể do động cơ hiếu kỳ, do tư tưởng sùng bái cá nhân, ngụy tạo lịch sử ở một số cá nhân nào đó! Bản thân bộ sách này đã nhiều lần bị thất lạc ở thời Trung đại (thời Lê sơ, Lê Trung hưng, Lê mạt, Nguyễn) và gần như đã thất truyền. Với tình hình đó, văn bản Thiên Nam dư hạ tập vốn đã khá phức tạp. Việc làm giả trên càng làm phức tạp vấn đề. Với việc phát hiện ra lai lịch của 3 quyển trên, chúng ta đã có thể chắc chắn loại 3 tập này khỏi bộ Thiên Nam dư hạ tập để tiếp tục nghiên cứu các tập còn lại“.

Nguyễn Phúc Anh : Anh vẫn có thể dùng Thiên Nam dư hạ tập cho cực nhiều nghiên cứu chứ anh. Vẫn dùng được. Không chỉ lịch sử nguỵ tạo văn bản. Có thể nói về lịch sử hình thành di sản, sự khác biệt trong cách thức kẻ sĩ Việt Nam và trí thức Pháp nhìn về vấn đề di sản, từ khi nào khái niệm bảo tồn di sản được đưa vào Việt Nam, trí thức bản địa có ý thức về bảo tồn không? Việc họ lấy từ thơ Trung Quốc để làm thành thơ Lê Thánh Tông có căn cứ trên sự tương đồng thi học nào? Động cơ tiền bạc và vị lợi có phải là một yếu tố tạo nên lịch sử? Lịch sử của quá trình thực dân hoá ở Việt Nam? Lịch sử thư tịch Hán Nôm và quá trình sử liệu hoá thư tịch Hán Nôm (vốn chưa bao giờ mang tính sử liệu)…..bla bla. Vấn đề như em nói, là đặt câu hỏi như thế nào và trả lời nó ra sao.

► Cho phép em chen ngang : Như vậy ngành giám định văn bản giống như kiểu như giám định ADN hoặc Cacbon 14. Có tiếng nói tối hậu trong một số trường hợp.

Nguyễn Phúc Anh : ADN hoặc Carbon 14 chỉ là một cách đem thêm cảm giác đáng tin cho những dữ liệu được viện dẫn. Còn nó chả làm cho một đối tượng trở thành sự thực lịch sử được.

Trần Trọng Dương : Carbon thì cũng có sai số, nhưng nó bó tay với các hiện vật từ 1000 tuổi trở xuống! ADN thì tớ không biết, dù đã có đọc vài tài liệu! Nguyễn Phúc Anh, vậy câu hỏi đối với Thiên Nam dư hạ tập là vì sao người ta làm giả mạo nó, giả mạo như thế nào, bằng động cơ gì, thủ pháp gì, kĩ thuật gì?

► Giám định là quan trọng, nhưng đúng là bây giờ ko chỉ để trả lời đồ giả hay thật mà còn để biết nó ra đời khi nào, ở đâu, do ai và quan trọng nữa là với mục đích, động cơ gì. Nhiều đồ giả cũng quý ko kém đồ thật. Ví như Đạo đức kinh, Lão Tử chưa chắc là thật, nhưng vẫn giá trị, tùy góc nhìn của người sử dụng tư liệu, nhất là khi khoa học phát triển càng đa dạng, đa nguyên như hiện nay.

Nguyễn Phúc Anh : Anh ơi, có thể họ còn chả có ý thức là họ đang làm giả nó cơ. Có thể khi tạo ra văn bản, họ nghĩ họ đang làm vì một mục đích cao cả là tôn vinh, làm đẹp cho tiền nhân, làm giàu cho chính thống của hoàng triều ấy.

► Đúng, cái này ông Gurevic nói rất rõ trong Các phạm trù văn hóa trung cổ. Tứ thư, ngũ kinh chắc gì là đồ thật, nó có thể ko của 1 ông A,B cụ thể nhưng nó lại đại diện cho một hiện tượng, giai đoạn,… nào đó.

Trần Trọng Dương : Thế thì, văn bản học có giá trị của nó chứ, và nó là một ngành khoa học chứ! văn bản học, hay sử liệu học cần được một vị trí riêng, chứ không thể đòi nó phải trả lời câu hỏi của ngành văn học, hay văn hóa được! Nhưng nếu làm văn học, văn hóa hay sử học mà không có biết văn bản học là toi đấy! Còn họ có ý thức về việc làm giả nó hay không thì đấy là chuyện khác! Nhưng ít nhất ở đây Phúc Anh cũng phải thừa nhận rằng, Thiên Nam Dư Hạ, hay Binh Thư Yếu Lược là hàng fake! cấm dùng để nghiên cứu về Trần Quốc Tuấn và các ông thời Lê Sơ! Cho nên cái STT này anh mới viết “cái chết của sử liệu học”! Nó chết bởi vì không mấy ai thèm quan tâm đến nó! Anh em mình làm văn bản học về các nguồn tư liệu Hán Nôm, chứ văn bản học bằng chữ Quốc ngữ latin thôi, ở mình cũng chả mấy ai quan tâm, có phải hong bác Lại Nguyên Ân ?

Nguyễn Phúc Anh : Em đồng ý việc chỉ ra tính chất tạo tác của Thiên Nam Dư Hạ Tập và Binh Thư Yếu Lược để cấu trúc lý giải lịch sử của một lớp nghiên cứu mới. Nhà khoa học cần làm thế, để thiết lập nên diễn giải của mình về quá khứ. Cái em nghĩ cần tránh ở đây là cách đặt câu hỏi về chuyện thật/giả chỉ để mà chứng minh nó là thật/giả mà thôi. Nó không còn là những câu hỏi năng sản trong nghiên cứu nữa. Xử lý văn bản và diễn giải sử liệu là hai THAO TÁC quan trọng thì đúng, còn nâng nó lên thành khoa học thì em e là có vấn đề về mặt khoa học luận.

Trần Trọng Dương : Ruan Song và bác Trường Phong đã từng “khai tử” một số tư liệu bằng văn bản học rồi! Nói Tứ thư Ngũ kinh không chắc là đồ thật, nhưng hiện tại không có cứ liệu nào để phủ định sạch trơn nó!

► Nãy giờ đang đọc TNDHT mà anh Ruan Song đề cập. Trong bài viết anh Tùng chỉ ra sự lẫn lộn của tập II, III, IV trong 10 tập hiện còn của Viện Hán Nôm chứ hoàn toàn không phải toàn bộ TNDHT. Cần phân biệt rõ điều này. Văn bản đâu thế kỷ XX thì cần hết sức thận trọng.

Nguyễn Phúc Anh : Cũng cần cẩn thận khi tiếp cận chân nguỵ. Ở Trung Quốc đầu thế kỉ 20, có phái Nghi cổ, họ nghi tất cả cổ tịch là ngụy tạo. Sau đó tìm ra những thành tố văn bản để chứng minh rằng những văn bản, ví dụ Thư kinh, được tạo tác dưới thời Hán, bla bla. Sau này khi khai quật đc rất nhiều giản bạch, hoá ra là nhiều nội dung đã từng tồn tại thực sự, trước Hán rất lâu. Trong một nền văn hoá hoàn toàn không có ý thức bản quyền thì các thành tố văn bản của thế kỷ thứ 10 có thể nằm song song với những thành tố văn bản thế kỷ 19 là bình thường. Và cái này đặt câu hỏi về cách tiếp cận chân/nguỵ có còn là cách tiếp cận hợp lý với sử học hay không?

Trần Trọng Dương : Cho nên, với văn bản “văn tế cá sấu sông Lô”, khi ta chưa giám định (nó là văn bản của Hàn Thuyên, hay của ai khác, là đồ thật hay đồ đều) thì chửa có thể tán gì về nó cả! Các nhà sử học, nhân học 🤔 và văn học chớ có động vào! (Mìn chưa gỡ ngòi, chớ có khò!)

Nguyễn Phúc Anh : Vẫn là chuyện đặt câu hỏi như thế nào và trả lời câu hỏi ra sao thôi anh. Với văn bản Văn tế cá sấu sông Lô thì chả cần phải đặt nó là đồ thật hay đồ đểu (chân/nguỵ) của Hàn Thuyên hay không thì vẫn có hàng trăm cách để “động” vào nó một cách phù hợp anh ạ. Như em có viết ở trên.

Trần Trọng Dương : Bắt đầu vào mạch rồi đấy! Một sử liệu chỉ được thay thế khi có những phát hiện mới về khảo cổ học hay văn bản học! Thế theo em khảo cổ học có phải ngành khoa học không, hay đó chỉ là mấy ng làm thao tác đào, và thao tác giám định!? Cái này phải hỏi thêm Phạm Lê Huy, Đào Xuân Ngọc ? Hay Đôn Hoàng học có phải là một ngành khoa học?

Nguyễn Phúc Anh : Không anh. Em ko nói 1 sử liệu chỉ được thay thế khi có những phát hiện mới về khảo cổ học hay văn bản học. Em đang nói là một văn bản chỉ trở thành sử liệu trong một/vài trường hợp nghiên cứu cụ thể. Ngoài trường hợp đó thì nó chỉ là văn bản. Còn khảo cổ học là một ngành khoa học, đương nhiên.

Trần Trọng Dương : Anh cũng đã viết hẳn 1 bài riêng (theo hướng em nói, từ symbolism) về cá sấu! Nhưng đó là của ngành khoa học khác, không phải là của văn bản học! Mỗi ngành khoa học đều có vị trí riêng, để TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI KHÁC NHAU! Chứ không thể nhất quyết chỉ có một vài câu hỏi này mới là thú vị, còn các câu hỏi khác thì không cần để ý tới! Đã có người nói thẳng vào mặt anh là anh không có lý luận! OK? nhưng là lý luận của ngành nào? Của Nhân học thì OK, không phải của anh! Nhưng văn bản học thì có thể là không phải là anh không biết gì.

Nguyễn Phúc Anh : Đương nhiên là mọi người ai thích đặt câu hỏi kiểu gì thì đặt thôi. Nhưng em nghĩ thế này, nếu câu hỏi mình đặt ra tự thân nó là mâu thuẫn với nhận thức về lịch sử của mình (lịch sử là câu chuyện, ko có sự thực lịch sử mà chỉ có những lý giải về lịch sử) thì tại sao lại đặt mãi câu hỏi về chân/nguỵ đúng sai? Nếu anh nghĩ văn bản học là một ngành khoa học, thì em nghĩ cần phải trả lời được câu hỏi đối tượng nghiên cứu của nó là gì? Đối tượng này có chung những đặc điểm gì để có thể quy nhóm và phân biệt với những ngành khác? Phương pháp luận nghiên cứu của nó ra sao? Tri thức mà nó tìm ra hướng đến cung cấp nhận thức mang tính khái quát về lãnh vực gì? Thực hành nghiên cứu của nó tuân theo những quy chuẩn thao tác gì? Trong mọi câu hỏi, văn bản học, Kiều học, Nhị Độ Mai học, Lục Vân Tiên học, Hồng học, Văn Tâm Điêu Long học đều là những tên gọi mang tính phân loại đối tượng nghiên cứu, chỉ ra được một xu hướng yêu thích với đối tượng nghiên cứu, chứ bản thân chúng không phải là những ngành khoa học anh ạ.

Trần Trọng Dương : Mấy cái Kiều học thì bỏ qua đi. Cái thư chí học là bibliography. Thế niên đại học có phải là một khoa học được không nhỉ? Nếu không giám định được cái sách A hay hiện vật B có niên đại thế nào? thì các câu hỏi khác (ví dụ về con RỒNG Lê Văn Thịnh) có ý nghĩa gì?

Nguyễn Phúc Anh : Niên đại học không phải là một môn khoa học. Nó là thao tác giám định niên đại anh ạ. Nó không trả lời được câu hỏi cuối cùng đối tượng nghiên cứu của niên đại học là gì (là niên đại?), và “tri thức khái quát hóa về niên đại” từ việc nghiên cứu niên đại là gì. 

► Trước đây em làm văn bản học em cũng đồng ý là nó cũng chẳng phải là một môn khoa học, mà là một thao tác làm việc với văn bản. Nhưng nếu ko có thao tác này thì việc đặt câu hỏi về những thứ liên quan đến văn bản cũng khó mà thỏa đáng được, phải không anh?

Trần Trọng Dương : Thế thì y học có phải là khoa học không? hay chỉ là thao tác khám bệnh của mấy ông bác sĩ, để chẩn đoán ra bệnh, và tìm ra cách trị bệnh đó? Khảo cổ học có phải là khoa học không, khi nó chỉ đi đào và giám định niên đại, và chỉ để trả lời lớp văn hóa này, với mốc niên đại này thì nó có hiện vật này? Thôi chuột rút, đi ngủ đã!

Nguyễn Phúc Anh : Anh ơi, khảo cổ học không phải chỉ đào và giám định niên đại và mốc niên đại với hiện vật. Nói thế các bạn làm khảo cổ buồn chết. Còn y học là vừa là khoa học, vừa là thực hành chẩn trị. Anh dùng y học với từ tiếng Anh tương ứng là gì? Nguyễn Mạnh Sơn ạ, thao tác văn bản học là cần thiết. Nhưng như anh nói ở trên, mục đích của thao tác văn bản học không nên chỉ để chứng minh văn bản là chân/ngụy, đúng/sai nữa. 

Trần Trọng Dương : Yep. I see! Khảo cổ k phải chỉ có thế. Và Văn bản học còn có nhiều nhiệm vụ khác, và còn phải thay đổi cách tiếp cận. Nhg a k đồng ý với quan điểm cho rằng đó không phải là ngành khoa học!

► Em không biết có phải ý của thầy Nguyễn Phúc Anh không nhưng em có quan điểm tương đối giống với ý của thầy. Và nếu hỏi là lý thuyết đó là lý thuyết gì, thì đó thuộc về chuỗi lý luận Collective memory, hay New cultural Memory mà em có lần bàn luận. Hệ thống lý thuyết này có thể xem thêm ở đây. Bàn về ký ức xã hội. Dù cái gọi là “sự thật bị làm giả”, thì cái “ký ức” là có thật. Nhu cầu chính là tìm hiểu được, tại sao lại có nhu cầu đó, và mục đích gì. Giống như cá sấu là giả, vậy nhu cầu về Cá Sấu, Hàn Thuyên, Chữ Nôm kia từ đâu và khi nào.

Nguyễn Phúc Anh : Cẩn thận với collective memory vì nó phản ánh cái khác, không phải nghĩa mặt chữ và gắn với huyền thoại với lịch sử đâu.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngụy thuyết


Quốc Anh : Nè, lúc nãy tớ vừa lượn qua blog của Trương Thái Du, xuôi xuống mấy bài viết hồi năm 2014. Tớ mò được mấy lỗi sai về nguồn sử liệu của ổng, đang định comment vào Face ổng để phản biện, nhưng cuối cùng lại thôi. Vì vặn nhau về độ xác thực của các loại sử liệu từ thời Tiên Tần thì đúng như rút dao chém nước. 😦

Kình Văn : He-he, về lý thuyết là không còn sách vở Tiên Tần, cho nên dẫu có thấy thì chúng chỉ được coi là nguồn tham chiếu. Ví như những thẻ tre trong mộ Ngụy nói rằng vua Ngu bị vua Thuấn truất ấy, chỉ được coi là phiên bản khác của truyện Ngu Thuấn.

Trúc thư kỷ niên (竹書紀年) là một cuốn biên niên sử Trung Hoa cổ đại, được các nhà sử học đánh giá là nguồn tham khảo bổ sung, đối chiếu và đính chính cho một số sự kiện lịch sử Tiên Tần. Nguyên bản được chôn cùng Ngụy Tương vương (mất năm 296 TCN) ở Cấp huyện và được phát hiện vào năm 281 triều Tấn Vũ đế. Vì lý do này, cuốn biên niên sử tồn tại được sau vụ phần thư khanh nho của Tần Thủy hoàng. Cùng Sử Ký, trứ tác này là một trong những cổ thư quan trọng nhất về Trung Hoa hồi sơ khai. Qua chỉnh lý và nghiên cứu, các học giả thời cổ cho rằng đây là sách sử của nước Ngụy thời Chiến Quốc, lấy mốc từ huyền thoại Hoàng Đế đến năm 299 TCN.

Quốc Anh : Thế nên mới nói, tranh cãi dựa vào nguồn tài liệu có tính chất hư vô cao thì đều là đấm vào bị bông. Chả khác gì các nhà thần học ngày xưa cãi xem lạc đà có qua được lỗ kim hay không.

Kình Văn : Thật ra, vấn đề ngụy thuyết này người Âu châu trung đại và cả chính người Việt thời Nguyễn về trước đã có cách xử trí cho hợp lẽ tự nhiên rồi. Cho nên tớ mới nói, chế độ Việt Nam Cộng hòa đã kế thừa tinh hoa hai nền văn hóa Đông-Tây và cả gầy dựng được nền khoa học rất đỗi nghiêm túc.

Quốc Anh : Tớ còn nhớ hồi còn đi học, thầy tớ từng nói ngụy thuyết cũng là một phần tất yếu của lịch sử cũng như của mọi khoa học.

Kình Văn : Cậu hiểu gần sát điều tớ muốn nói rồi. Ngụy thuyết thường rất hấp dẫn, nhất là với người ngu. Tớ nói, sáng nay cậu lên phố sách bằng ngựa sắt sẽ thú hơn là nói “cái xe máy”. Đấy là ngụy thuyết – một dạng của văn chương. 😄

Quốc Anh : À hiểu rồi ! 🙂

Kình Văn : Cho nên, việc công nhận sách Tạ Chí Đại Trường như một hệ thống công trình nghiên cứu nghiêm túc của chính quyền cộng sản, tớ cho là tai hại. Vì chính điều đó đẻ ra đám lyhocdongphuong, Trương Thái Du sau này. Trong khi thời Cộng Hòa, sách của ông ấy chỉ được coi là văn phẩm.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Phạm Tùng Niên


Mình xin có chút thắc mắc thế này, sáng nay học môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam trên lớp, thầy giáo mình có nhắc tới việc Phạm Đình Hổ là nhà văn hóa lớn của nước ta thế kỷ XVIII, nhưng ông cũng có rất nhiều điều tiếng xấu đương thời, đặc biệt là khi làm quan nhà Nguyễn. Nhưng mình chỉ thấy các tài liệu nói Phạm Đình Hổ là nhà nho mẫu mực chứ không thấy thông tin về điều tiếng xấu gì của ông. Vậy mình hỏi xem điều này có thực hay không, và nếu là thực thì cho mình xin chút thông tin được chứ ?

Quốc Anh : Thầy bạn nói vừa đúng vừa không. Cơ mà trước nhất mình muốn hỏi, bạn nói rằng cụ Tùng Niên theo như bạn biết là nhà nho mẫu mực, thế thì tiêu chuẩn hoặc biểu hiện nào là mẫu mực của một nhà nho (ít nhất là theo bạn). Cũng nên trình bày cái đó ra để định hướng vấn đề. 😊

► Khiếp, sao bác lần nào cũng phải vặn vẹo hắc xì dầu thế ! 😂

Không phải mình cố ý làm khó bạn, cái này người ta nói là tư duy biện chứng, nó cần trong mọi vấn đề và liên quan tới cái bạn hỏi. Nếu chính bạn không hiểu và trình bày nổi điều mình phát ngôn thì người khác cũng không thể trả lời rõ cho bạn được, và có đáp thì e là bạn có thể cũng không hiểu.

► À thì chỉ nghĩ đơn giản là mẫu mực ở đây nghĩa là em thấy Phạm Đình Hổ không có tai tiếng gì (ít nhất như em biết), chăm chỉ học tập, miệt mài nghiên cứu, có hiếu với cha mẹ. Đây chỉ là nhận thức đơn giản có phần dốt của em, mong bác lượng thứ cho, em không có ý gì cả. 😂😂😂😂😂😂 Bác xá cho em nếu em trót nói ngu 😢😢😢😢

Quốc Anh : Ô hay, làm gì mà nghiêm trọng thế ? 😅 relax, relax 😄

Nay mình trả lời bạn Trần Văn Nghĩa.

Thầy giáo bạn có nhắc việc Phạm Đình Hổ, là nhà văn hóa lớn của An Nam thế kỷ XVIII, nhưng đương thời cũng có tiếng xấu, thậm chí nghiêm trọng, khác hẳn với hình ảnh ta thường được biết về cụ. Thế mình mới đáp là thầy bạn nói vừa đúng vừa không.

1. Đúng ở chỗ, con người sống ở trên đời không ai hoàn hảo, ai cũng có lúc tốt lúc xấu, tiếng tăm người ta để lại ở đời theo đó cũng có tiếng tốt tiếng xấu, nhà nho và cả bậc đại nho cũng không ngoại lệ. Đúng nữa là vì các tài liệu lịch sử có nhắc tới tiếng xấu của Phạm Đình Hổ thực.

2. Còn nói cũng có chỗ không đúng, là vì các tài liệu chưa bảo đảm được độ xác thực. Tiếng xấu của Phạm Đình Hổ được ghi lại ở hai tài liệu Quốc sử di biên (國史遺編) và Đại Nam thực lục (大南寔錄). Quốc sử di biên ghi được khá nhiều thông tin, nhưng “di biên” đúng như cái tên, vốn là thể loại nhằm sưu tầm các việc mang tính đồn đãi ; vì thế, chưa thể coi các điều trong đó là hoàn toàn đáng tin, chỉ có thể tạm coi là sự tham khảo. Đại Nam thực lục thì ghi được một việc có liên đới Phạm Đình Hổ ; nhưng xét ra, Thực lục thuộc thể loại chính sử và sẵn có uy tín của triều Nguyễn, điều trong đó đáng tin hơn hẳn và nhiều khả năng thực.

Cụ Phạm phải đường khoa hoạn khó khăn, đỗ không cao, từng thi trượt nhiều bận, nên khi ra làm quan nhà Nguyễn thường bị đồng liêu dè bỉu, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến cả tai vua. Việc ấy nằm trong Đại-nam thực-lục chi Thánh-tổ Nhơn hoàng-đế, đệ nhị kỷ, quyển 105.

◆ Quốc Tử giám Thự tế tửu [1] Phạm Đình Hổ, Tư nghiệp Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu làm việc không hiệp nhau. Vua nghe biết, dụ bộ Lễ rằng : “Thành Quân quán là nơi đầu cho phong hóa, mô phạm quan hệ đều ở đó cả. Nhà nước đặt ra tế tửu, tư nghiệp cốt là để dìu dắt sĩ tử mở rộng văn trị, thế mà bọn kia nhiều việc lủng củng, dạy dỗ thưa thớt, nhân tài ít được tiến ích, thực phụ lòng ta. Hạ lệnh chúng tâu thật minh bạch !“. Đến khi sớ dâng lên để luận tội, Hổ lại nói chêm rằng : “Học thức thô sơ, khoa mục không cao, vẫn bị bạn đồng nghiệp trêu chọc. Nay tuổi già mờ tối, ý nghĩa sách vở ngày một quên lẫn, sợ sức trái với lòng, chỉ thêm tội lỗi, xin từ việc Giám về hầu ở bộ“. Vua dụ rằng : “Phạm Đình Hổ xuất thân học trò, trẫm thấy văn học tài giỏi, cho nên cất nhắc vượt bậc. Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu đều là khoa bảng xuất thân, làm việc lâu ngày, giao cho chức trách lo việc giáo dục, thế mà không biết kính mến nhau, gắng gỏi cho xứng chức vụ, lại lấy ranh giới coi nhau đến nỗi chẳng để tâm vào chức vụ, tư cách làm thầy như thế thì học trò biết nhìn vào đâu ? Nay sức hỏi tâu đáp thì Hổ còn lấy việc bị đồng nghiệp trêu chọc mà tự thác, Thuân và Hựu thì đều nói hàm hồ, đều không phải cả. Đáng lẽ cần giao cho bộ nghiêm bàn, nhưng nghĩ là do mờ tối, hãy tạm trừng trị qua loa. Vả chăng lời Hổ cũng thành khẩn, y lại là người ngay thẳng, nếu cho làm việc quan thì khó thành hiệu. Vậy chuẩn cho thôi việc Giám, vẫn lui về nguyên hàm Hàn Lâm viện Thừa chỉ, giáng hai cấp, bọn Thuận và Hựu cũng giáng hai cấp“.

Trong Quốc sử di biên có chép rằng Phạm Đình Hổ là người ương bướng nên gây ra một số tai tiếng sau :

◆ Thự Tế tửu Phạm Đình Hổ xin từ chức, Hổ là người trực tính, giáo pháp nghiêm cẩn, học trò nếu trước đã bái sư người khác mà nay đến xin học đều không cho nhập môn. Bấy giờ đang ở Giám, có vị công tử ra xin học, ông rút guốc ném. Vị kia cãi lại : “Nếu đánh roi thì còn là hình phạt trong khi dạy học, nay thầy lấy guốc ném tôi là thể thống gì ?“. Liền lấy guốc của mình ném lại Hổ, rồi nói tiếp : “Thầy không phải bậc đại khoa, không đủ làm mực thước dạy người“. Hổ thẹn quá, dâng biểu lên xin về Bắc Thành dưỡng bệnh, vua ban cho 100 quan tiền.

◆ Khi Hổ ở Bắc Thành, gặp kỳ thi Hương, con ông ta làm văn hộ người khác, việc vỡ lở, bị giáo thụ Hoài Đức nọc ra đánh roi. Hổ giận mắng : “Ta hận nỗi không làm được đại quan thôi, chứ còn như đám giáo thụ kia thì môn đồ ta có khối“. Người đời cho là ông quá quắt.

◆ Có viên Cẩm Y vệ giở trò vòi tiền nhà Hổ không được, liền ra đường nói hỗn, bị Hổ đánh cho chảy máu. Viên Cẩm Y ngã lăn ra đất, Hổ liền lấy nồi đồng treo vào người vu cho tội ăn trộm giữa ban ngày, làm bản cáo trạng tố lên Hình tào Nghi. Có lệnh xuống, sai truyền Tri phủ Diễm xét án. Diễm đến xử, chỉ bắt tội Hổ khi quân, nói rằng : “Hoàng thượng nhiều lần hạ chiếu triệu ông, ông lấy cớ vì bị bệnh yếu để từ chối. Thế mà nay đang bệnh nặng, ông lại còn đánh ngã bất tỉnh được người khỏe mạnh, thế thì ai là kẻ khỏe đây ?“. Hổ giận và đuối lý, đập đầu xuống bàn. Diễm bật cười nói : “Dù ông có tháo khăn mà đập vỡ đầu cũng chả vu được cho ta cái tội bức tử, huống hồ giờ đầu ông vẫn còn quấn khăn thì đập vào bàn cũng phương hại được nỗi gì“. Rồi hạ lệnh bắt trói viên Cẩm Y cùng chứng cứ, lập án trạng xong, bảo với Hổ : “Ông có quan phẩm, lại được hoàng thượng trọng dụng, hình tào Bắc Thành không dám xét xử, cần chờ làm sớ tâu lên để định đoạt, sự thể phải như vậy“. Hổ sợ, cố xin giảng hòa [với viên Cẩm Y], nên được miễn thứ. Khi Hổ được phục chức, thường qua lại tự do ở công đường lục bộ [2], ngự sử đề tấu việc đó lên với vua. Vua tha cho, miễn nghị tội và nói : “Hiểu biết, rèn luyện rồi du chơi, nghỉ ngơi ; đấy vốn là bản sắc của kẻ thức giả” . Có viên nhậm tử nọ ở Bối Khê từng chê Hổ rằng : “Ông nổi tiếng là kẻ có văn học, được hoàng thượng trọng dụng, thế mà ngôn động lại sai trái. Bị trong triều ngoài nội đàm tiếu, chỉ riêng ông là không biết hối chăng ?“.

Trên đây là phần trả lời của mình, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người bỏ qua và góp ý !

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Chức vụ về nghi lễ triều đình cũng là chức vụ dạy học tại Quốc Tử giám ngày trước, coi như vị “hiệu trưởng” của trường này.

[2] Theo phép tắc của nhà Nguyễn, quan lại các cấp nếu không có phận sự thì không được phép đi lại tự tiện ở công đường các bộ.

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự đãi ngộ quan chức thuở xưa thế nào ?


Mình xin phép hỏi một câu hơi “thiếu muối” một chút, hôm qua mình đọc được tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống về thời Nguyễn. Có đoạn tác giả cho nhân vật (là quan chức tham nhũng), bao biện cho hành vi của mình, đại ý rằng, quan lại thời Nguyễn mà nếu chỉ dựa vào bổng lộc triều đình ban thì sống rất chật vật, muốn thanh liêm cũng khó. Dĩ nhiên dựa vào tiểu thuyết mà bàn lịch sử thì là vô lý, nhưng mình vẫn muốn biết cái việc chỉ dựa vào lương là khó sống của các quan thời Nguyễn có thực không ?

Thạch Trung : Chả liên quan lắm, nhưng luật thời Nguyễn khá tiến bộ và nghiêm. Năm 1822, dưới triều vua Minh Mệnh, tại Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai nên gạo đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc để bán cho dân. Người quản kho thóc ở kinh là Đặng Văn Khuê được lệnh phát chẩn cho dân, nhưng mỗi hộc lại thiếu một ít. Việc bị phát giác, vua sai bộ Hình tra xét, án xong tâu lên thì vua liền ra lệnh chém. Trong sách ‘Đại Nam thực lục’ còn kể, vào tháng 5 năm 1823, một ông quan của Nội Vụ phủ tên Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng bị phát giác, bộ Hình đem ra xử án. Điều 229 của bộ luật triều Nguyễn có quy định : Kho của vua gọi là Nội Vụ phủ, ở trong cấm địa của hoàng thành, nếu lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu. Tuy nhiên, với Hữu Diệm, thay bằng tuyên án chém thì bộ Hình giảm xuống thành tội lưu đày. Án tâu lên, vua bảo rằng, ở thời vua trước cũng có một viên quan thông đồng với thợ bạc đúc trộm ấn giả để trộm đổi lấy ấn thật trong kho, những tên này đều bị chém ngay. Hữu Diệm dám công nhiên lấy trộm cả cân vàng, thì theo nhà vua trong mắt Diệm đã không còn pháp luật. Vua lệnh giải ngay Hữu Diệm đến chợ Đông Ba chém đầu để răn đe những người khác có ý định phạm tội.

Chính mình cũng từng thắc mắc việc này, nhưng không phải do xem tiểu thuyết mà vì đọc biên chép của cụ tổ mình từng làm quan thời Nguyễn. Để trả lời câu hỏi này cần biết được hai điều : Mức sống trung bình của thường dân thời Nguyễn quy ra tiền ; Các mức lương bổng của quan chức nhà Nguyễn.

Thứ nhất, về mức chi tiêu trung bình, rất tiếc trong phạm vi của mình chưa tìm được bất cứ tài liệu nào.

Thứ nhì, về lương bổng của quan lại nhà Nguyễn, ta có thể tìm được chút thông tin. Vấn đề ở chỗ, các mức lương không cố định trong suốt lịch sử nhà Nguyễn mà luôn thăng giảm tùy thời, chưa kể mức sống mỗi nơi, mỗi thời mỗi khác, gia cảnh mỗi quan lại cũng khác, cùng một mức lương bổng, ở chỗ này sống dư dật, chỗ khác lại khó khăn.

Đây là vấn đề khó nói mà tới tận giờ mình cũng chưa có kết luận trọn vẹn. Bởi thế, chỉ có thể cung cấp các thông tin và nhận định mang tính chất cục bộ cho bạn từ hướng cá nhân mình mà thôi, vì như đã nói trên điều bạn hỏi có tính chất đầy co giãn. Như trường hợp cụ mình, làm quan từ năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) tới năm Tự Đức thứ 21 (1869) thì nghỉ hưu, bảng lương quan lại trong thời điểm đó đại để :

◆ Chánh nhất phầm: Lương bổng các loại cộng lại 1 năm là 470 quan, 300 phương gạo. Như vậy trung bình (TB) mỗi tháng được gần 40 quan, 25 phương gạo.

◆ Tòng nhất phẩm: 360 quan, 250 phương gạo. TB tháng: 30 quan, hơn 20 phương gạo.

◆ Chánh nhị phẩm: 300 quan, 200 phương gạo. TB tháng: 25 quan, gần 16 phương 6 thăng gạo.

◆ Tòng nhị phẩm: 210 quan, 150 phương gạo. TB tháng: hơn 17 quan tiền, hơn 12 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tam phẩm: 170 quan, 120 phương gạo. TB tháng hơn 14 quan, 10 phương gạo.

◆ Tòng tam phẩm: 136 quan, 90 phương gạo. TB tháng hơn 11 quan, hơn 7 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tứ phẩm: 94 quan, 60 phương gạo. TB tháng: gần 8 quan, 5 phương gạo.

◆ Tòng tứ phẩm: 70 quan, 50 phương gạo. TB tháng: gần 6 quan, hơn 4 phương 1 thăng gạo.

◆ Chánh ngũ phẩm: 49 quan, 25 phương gạo. TB tháng: 4 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng ngũ phẩm: 43 quan, 30 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, 2 phương 5 thăng gạo.

◆ Chính lục phẩm: 37 quan, 25 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng lục phẩm: 31 quan, 22 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan; gần 1 phương 8 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng thất phẩm: 27 quan, 20 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan, gần 1 phương 6 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng bát phẩm: 24 quan, 18 phương gạo. TB tháng: 2 quan, 1 phương gạo rưỡi.

◆ Chánh và tòng cửu phẩm: 22 quan, 16 phương gạo. TB tháng: gần 2 quan, 1 phương 3 thăng gạo.

Lưu ý, các chức cụ từng làm theo thứ tự là : Thư lại bút thiếp Tòng cửu phẩm – Tri huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Tòng lục phẩm – Kinh lịch tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – Giáo thụ phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – chức cuối cùng và cao nhất, là Đồng tri phủ Lý Nhân (cũng là quê cụ), tỉnh Hà Nội, Chánh lục phẩm, tuy nhiên, cụ chỉ làm được có ba năm thì bị bệnh phải xin về trí sĩ.

Cụ có viết lại trong tập tạp bút rằng : “… tôi mang ấn thụ, mặc phẩm bào hơn 20 năm, được như ông Nhữ Hiền [1] thì không dám nhận. Dẫu vậy, cũng đã cố hết sức giữ đức thanh thận, cần kiệm, tự xét thấy với triều đình, với đạo nghĩa, với dân tâm, chưa làm việc gì đáng hổ thẹn. Nhưng được thế, cũng là do trước kia thầy học luôn răn dạy nghiêm cẩn về cái lẽ đạo quân tử cốt trọng thanh bần. Gia dĩ, nhờ phúc ấm tổ tông, còn để cho dăm mẫu ruộng với nghề làm lụa, sau cùng, bà vợ già lại biết quản gia sự, khéo làm ăn, nên cảnh nhà không tới nỗi. Chứ nếu dựa cả vào bổng lộc khi cao nhất cũng chỉ hơn 3 quan tiền, 2 phương gạo của tôi mỗi tháng, thì trừ phi chịu cảnh phúc mỏng, đường hương hỏa hẹp [2], còn không, cả nhà 8 miệng ăn, thêm 2 cái túi da hứng tiền [3], thực là khó sống, khó liệu, nhất là đến những khi tháng 3 ngày 8 [4]. Lúc ấy, chả biết đức thanh liêm giữ nổi hay không ?…“, “Lão tiện nội (vợ cả) có lần từng đùa, giá ông làm được đến ông đốc một tỉnh [5], thành ra lương cao, thì cái thân mụ này đỡ phải vất vả chạy vạy, mà ông khéo cũng lập được đến mấy phòng [6], có cái tiếng phong lưu. Đằng này, người ta cho làm tri phủ trẻ ranh [7], giờ về hưu, gì mà chả nghèo ? Tôi nghe chỉ biết cười ha hả…“. 

Các điều cụ viết đã trăm năm có lẻ, dù thực hay không mình không kiểm chứng nổi và cũng không dám thắc mắc, mình cũng chỉ biết là sau này cụ mất cũng không để lại mấy tài sản, con cháu chỉ sàn sàn đủ ăn, không giàu nổi. Vậy ít nhất từ những cái mình thấy được, thì trước thời Pháp thuộc, các quan lại nhà Nguyễn nếu thực sự thanh liêm, hoàn toàn chỉ dựa vào lương bổng, không có nguồn thu khác (cả bất chính lẫn ngay thẳng) thì quan dưới ngũ phẩm có cuộc sống khá bấp bênh, do lương bổng hạn chế cộng với việc nhà đông con cái (cái này thì thời đó đừng nói là quan lại, cả nhà dân thường cũng đông nhân khẩu như thế thôi). Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không mấy khi có việc quan lại chỉ dựa vào một nguồn thu từ lương bổng, bao giờ ít nhất cũng có thêm một nguồn thu nữa, điển hình nhất là việc có nguồn thu từ canh tác nông nghiệp trên ruộng đất của gia đình, vậy nếu tính thêm khoản này thì các quan tối thiểu cũng đủ sống.

À mà bổ sung thêm, trong biên chép cụ còn kể, khi mới làm quan có nghe các huynh trưởng nhắc tới câu khẩu quyết nhập môn của nghề là “Thăng quan thượng kinh, phát tài hạ tỉnh” (Thăng quan lên kinh, phát tài xuống tỉnh). Nghĩa là nghề làm quan, nếu muốn nhanh thăng tiến thì nên nhậm chức trong kinh đô, làm kinh quan vì ở kinh đô ngay dưới chân thiên tử, hội tụ các cơ quan trung ương, quan chức lớn, tai mắt đều nhiều ; làm kinh quan dễ lọt được vào “mắt xanh” của cấp trên để từ đó thăng tiến. Còn nếu anh muốn kiếm cho đầy túi, thì nên xin bổ vào các chức quan ngoại nhiệm làm việc ở các tỉnh, vì như cụ Nam Cao nói “xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ“, làm quan ngoại nhiệm xa tầm kiểm soát của triều đình, có thể thẳng tay vơ vét.

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Nhữ Hiền (汝贤) là biểu tự của Hải Thụy (海瑞, 1515 – 1587), vị quan nổi tiếng thanh liêm, chính trực thời Minh.

[2] Ý bảo, trừ phi nhà ít con cái thì mới sống được với chút tiền lương đó, xưa người ta quan niệm nhà đông con cháu thì là nhiều phúc, ít con cháu là phúc mỏng.

[3] 8 miệng ăn : 1 chồng, 2 vợ, 5 đứa con ; 2 cái túi da hứng tiền : 1 tớ giai và 1 tớ gái.

[4] Tháng 3 ngày 8 : Ý nói là vào khoảng vụ giáp hạt, thường thời điểm đó ngày xưa gạo thu hoạch được của vụ cũ đã cạn, nhưng chưa đến vụ thu hoạch mới, nên hay xảy ra nạn đói.

[5] Đốc học, trật chánh ngũ phẩm.

[6] Lấy thêm vợ lẽ, nàng hầu.

[7] Đồng tri phủ (同知府), trong đó chữ Đồng (同) đọc lên cùng âm với Đồng (童) nghĩa là trẻ con. Bản thân chức Đồng tri phủ cũng không phải cao, nắm quyền cả một phủ như chức tri phủ trật ngũ phẩm, mà chỉ là ở dạng cấp phó.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phép tắm gội đời xưa


Trong Đại Việt sử ký toàn thư có chép câu truyện khiến người ta đọc tới phải chưng hửng, đó là tích Trần Quốc Tuấn tắm giùm Trần Quang Khải. Tích này thường được cho là thể hiện tình đoàn kết của triều Trần, nhưng ngoắt ngoéo ở chỗ người chép sử không lý giải được ý nghĩa việc “tắm cho” này, khiến đời sau thấy vô duyên lãng xẹt. Đoạn ấy như vầy :

Một hôm, Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Lại Quang Khải vốn sợ tắm gội, Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Quang Khải : “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”. Rồi cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói : “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng nói : “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai người càng thêm mặn mà. Bản thân làm tướng văn tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu (Bản kỷ – Anh Tông hoàng đế).

Sử sách An Nam chuyên đặc tả những gương lẫm liệt hào hùng và gạt bỏ chi tiết đời thường, nên nay thật khó biết vua tôi đời Trần tắm giặt thế nào, chỉ có thể tham khảo những biên chép từ Trung Hoa để tìm hiểu, hầu lý giải vụ “tắm cho” này.

Phần đông loài người chỉ mới tập thành thói quen tắm rửa khoảng gần 200 năm nay. Trước đó, người ta vẫn xem việc vài tháng không tắm là sự thường. Ở châu Âu, vào thế kỷ IV, hình thức tắm táp còn là để tra tấn tội phạm. Tới thế kỷ XVII, người châu Âu vẫn xa lạ với việc vệ sinh thân thể ; ở Tàu thì có khác. Các giáp cốt văn thời đại Ân Thương hơn 3000 năm trước đã biên chép về việc tắm gội (mộc dục / 沐浴). Sách Chu lễ soạn thời Tiên Tần bắt đầu chế định tắm gội là nghi thức bắt buộc của vua quan mỗi khi muốn tham gia tế lễ cúng bái, kèm theo đó là những quy định cụ thể về cách bài trí và vật dụng cần có của phòng tắm trong vương thất.

Năm 334, Võ đế nhà Hậu Triệu là Thạch Hổ cho dựng chỗ tắm riêng gọi “Long ôn trì” [1], đó là “phòng tắm tư nhân” quy mô xuất hiện sớm nhất ở Trung Hoa. Đến Nam Bắc triều, Giản Văn đế nhà Lương là Tiêu Cương (503 – 551) đích thân soạn công trình nghiên cứu phép dưỡng sinh, lấy việc tắm gội làm chính, là Mộc dục kinh (3 quyển). Sang đời Đường, kiến trúc hoàng cung phủ đệ đã dành hẳn chỗ tắm táp riêng; hiện trong Thanh Hoa cung, một trong “tứ đại danh viên” [2], vẫn còn “Thanh Hoa trì” là chỗ để hoàng đế và hậu phi tắm gội. Đời Tống, do thương nghiệp phồn thịnh, đã có hình thức kinh doanh nhà tắm công cộng. Trong Năng cải trai mạn lục (能改齋漫錄) do danh sĩ Nam Tống là Ngô Tăng soạn năm 1162 còn cho biết các chủ nhà tắm đã biết dùng chiêu ưu đãi khách quen đặng giữ mối lâu dài. Không chỉ thế, còn xuất hiện thêm dịch vụ kỳ lưng cho khách tắm, như trong bài từ Như mộng lệnh của Tô Đông Pha (1037 – 1101) ghi nhận [3]. Từ đầu thế kỷ XVI trở đi, hệ thống nhà tắm công cộng phổ biến khắp Tàu, tỉnh thành nào cũng có [4].

Theo định chế từ đời Tần, việc tắm táp không chỉ là vệ sinh thuộc cá nhân, mà còn là nghi thức bắt buộc đối với bá quan, cả trung ương xuống phủ huyện. Cách ba ngày phải gội đầu (gọi là “mộc”), cách năm ngày phải tắm toàn thân (gọi là “dục”). Vì thế, đời Hán có lệ cứ cách năm ngày lại cho các quan được nghỉ một ngày tắm táp, ngày nghỉ đó gọi “hưu mộc” (休沐 / Nghỉ phép để tắm gội). Trước khi yết kiến hoàng đế, quan viên vào chầu chín bệ cũng như cung phi được chọn hầu ngự tẩm đều bắt buộc phải qua nghi thức tắm rửa sạch sẽ, thay đổi y phục tinh tươm, bằng không sẽ phạm tội khi quân.

Việc tắm rửa do đó thành quy phạm cho cả dân gian. Sách Lễ ký, thiên “Nội tắc” quy định dân chúng cách năm ngày phải dậy sớm để tắm rửa thay y phục ; trong nhà lại phải có phòng tắm riêng cho nam nữ, vợ chồng không được tắm chung. Khi cha mẹ già yếu, con cái có bổn phận mỗi sáng phải giúp rửa mặt rửa tay, mỗi tối rửa chân, cách ba ngày giúp gội đầu, năm ngày giúp tắm gội cho cha mẹ. Cả hòa thượng, đạo sĩ cũng không ngoại lệ, bắt buộc phải tắm rửa theo đúng nghi thức, gọi là lễ “tịnh thân” trước khi làm pháp sự.

Trong phòng tắm của Trung Hoa thời xưa có đặt thùng gỗ to đủ ngâm nguyên người để tắm, đúng như Cổ Long đã tả cảnh Phong Tứ Nương tắm trong quán trọ ở đoạn mở đầu bộ kiếm hiệp Tiêu Thập Nhất lang. Ngoài ra, trong phòng còn có lò nấu nước, có ngăn để hương liệu, và cả nhà xí riêng.

Người Tàu xưa tắm cũng hệt như người thời nay, không chỉ dội nước ngâm suông mà tẩm đủ thứ hương liệu giúp thân thể thơm tho. Từ đời Đường, người ta đã tạo ra xà-phòng từ đậu nành và cho tinh dầu, thảo dược dưỡng da vào chậu tắm. Sang đời Tống, lại phát hiện ra trái bả đậu có hoạt chất giúp tẩy rửa, nên đã có kỹ nghệ bào chế xà-phòng cục từ đậu nành và bả đậu để cung ứng nhu cầu vệ sinh. Cái bàn chải kỳ lưng cũng là được chế tạo vào thời này.

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

Trở lại với câu hỏi đặt ra ở đầu bài viết : Tại sao Toàn thư lại chép truyện tắm này ? Dụng ý muốn nói gì ? Việc đó có thật đáng tin không ?

◆ Nhà Trần vốn gốc Phúc Kiến bên Tàu, lại xuất thân từ nghề chài lưới nên lệ tắm rửa vệ sinh theo Tàu hẳn là phải có. Việc khó thể xảy ra là Trần Quang Khải, một Thượng tướng Thái sư lại lười tắm thì sao có thể làm gương cho bá quan những lúc nghị triều ? Việc không tắm này là tội khi quân thời đó, nên nếu có cũng phải giữ kín, có đâu để đồn ra khiến thiên hạ đều hay ?

◆ Lại nữa, nếu nói trước đó hai bên có hiềm khích thì sao lại có truyện Khải đến chơi với Tuấn cả ngày ? Trần Quang Khải nắm thực quyền trong tay, chỉ dưới mỗi vua Trần, e là không phải lo sợ gì một hoàng thân thất thế, suốt đời không một lần được tin tưởng giao quyền hành như Trần Quốc Tuấn [5]. Mối “hiềm khích” đó nếu có, cũng chỉ có thể ở phía Tuấn mà thôi, nên ông này mới phải cầu cạnh, hạ mình để xin được làm cái việc “tắm giùm”, vốn chỉ là phụng sự của đầy tớ đối với chủ, con cái với cha mẹ như vậy.

Đoạn văn nói trên của Toàn thư đầy mâu thuẫn, khiến ngay cả những ai sau này trích dẫn để chứng minh tình đoàn kết trong gia tộc Trần đều lúng túng, không sao giải thích thỏa đáng. Vậy nó từ đâu mà có ?

Nếu để ý sẽ thấy việc lười tắm của thái sư đầu triều Trần khá giống vụ tể tướng đầu triều Tống, Vương An Thạch. Truyện kể rằng : Vương An Thạch (1021 – 1086) vốn sợ nước, thường khi nửa năm không tắm giặt, cũng không thay quần áo. Hai người bạn thân là Ngô Sung [6] và Hàn Duy [7] thấy vậy bèn ép rủ Thạch đi nhà tắm công cộng, thuê người kỳ cọ, tẩm nước thơm cho. Từ đó, Thạch mới thường xuyên cùng hẹn bạn đi tắm. Và Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên đã cải biên một giai thoại của Trung Hoa thành chính sử của An Nam như vậy đó. Ta nói, Bắc Việt đã có tập tính bắt chước giả làm Tàu từ trong máu, thiệt xui mà !

~~~~~~~~~~~~

[1] Sở dĩ có tên “Long ôn trì” (龍温池) là vì khi vua tắm, nội thị thả những con rồng bằng rồng bằng đồng được nung đỏ xuống hồ để giữ cho nước ấm.

[2] Tứ đại danh viên, tức Di Hòa viên ở Bắc Kinh, “Ti thử sơn trang” ở hạt Thừa Đức tỉnh Hà Bắc, Chuyết Chính viên và Lưu viên ở Tô Châu tỉnh Giang Tô. Đây là 4 khu thượng uyển của vua chúa các đời, nay đều là địa điểm du lịch nổi tiếng.

[3] Ký từ sát bối nhân, trú dạ lao quân huy trửu (寄詞擦背人, 晝夜勞君揮肘 / Hầu kỳ lưng cho khách, ngày đêm nhọc nhằn mỏi khuỷu tay).

[4] Nếu ngày nay, người An Nam có tập quán xin chữ ký quota trong quán nhậu thì bọn Tàu kinh doanh thuở trước cũng có thói quen bàn bạc việc kinh doanh trong ngăn riêng ở nhà tắm công cộng. Hễ khách xa đến thì theo lễ phép, phải mời khách đi tắm trước đã, đó chính là nguyên nghĩa của từ “tẩy trần” (tẩy rửa bụi bặm đường xa).

[5] Về chức “Quốc công Tiết chế” hữu danh vô thực của Tuấn, xin xem thêm ở đây : Bi kịch Trần Quốc Tuấn.

[6] Ngô Sung (1021 – 1080), tự Trọng Khanh, quê Phúc Kiến. 18 tuổi thi đậu Tiến sĩ, là đại thần của Bắc Tống, làm quan đến Kiểm hiệu Thái phó Khu mật sứ.

[7] Hàn Duy (1017 – 1098), tự Trì Quốc, người Hà Nam. Cháu ngoại Vương Đán (Tể tướng trào Tống Chân Tông). Là một danh sĩ phong lưu, quan đến chức Môn hạ Thị lang.

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Họ Hồng Bàng từ đâu chui ra ?


Như đã nói, họ Hồng Bàng là thứ âm binh ôn dịch do Ngô Sĩ Liên mới đưa vào Toàn thư hồi cuối thế kỷ XV, nhằm tìm một ông tổ chánh gốc Tàu cho Giao Chỉ (Bắc Việt) [1]. Và gốc cái “Kỷ Hồng Bàng thị” trong Toàn thư kia cũng không ở đâu xa, là chính ở công sưu tầm truyện quái đản truyền kỳ của bậc túc nho kia thôi : Nghĩa là mót từ Lĩnh Nam Chích Quái.

Như tên sách, “chích” 摭 nghĩa là nhón lấy, nhặt lấy. “Lĩnh Nam chích quái” 嶺南摭怪 là tuyển tập sưu tầm những truyện kỳ quái ở đất Lĩnh Nam. Từ “Lĩnh Nam” vốn có hai nghĩa. Ở nghĩa rộng, nó là vùng đất mênh mông bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, và cái thẻo đất lủng lẳng trong kẹt háng của Trung Hoa, mà sau này sẽ thành Giao Chỉ tức Bắc Việt. Theo nghĩa hẹp thì Lĩnh Nam dùng để chỉ khu vực phía nam của dãy Ngũ lĩnh. Lĩnh Nam còn gọi “Lĩnh ngoại”, “Lĩnh biểu” (chữ biểu 表 đồng nghĩa với ngoại 外, cùng là “bên ngoài”). Điều lạ thường là ở Giao Chỉ, từ “Lĩnh Nam” lại có nghĩa mặc định là đất đai vốn có tự cao tằng tổ khảo của dòng giống Lạc Việt, bất chấp thực tế địa lý lưu vực sông Hồng cách dãy Ngũ lĩnh vạn dặm, vậy mới cà tưng, he-he !

Và các học giả An Nam sẽ luôn hiểu từ “Lĩnh Nam” của tựa sách Lĩnh Nam Chích Quái theo cái nghĩa đặc dị đó, bất chấp luôn những truyền kỳ chép trong đó phần lớn là cóp nhặt của các tộc khác [2]. Bộ Lĩnh Nam Chích Quái được hình thành cùng một kiểu như bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư, nghĩa là các đời sau cứ lôi bản đời trước ra để chỉnh lý theo ý mình. Cõi An Nam văn vật từ xưa vốn chẳng có chút khái niệm nào về tác quyền, vậy nên tác phẩm văn hiến truyền đến đời sau thì thành một đám hỗn độn, chẳng thể phân biệt đoạn nào của ai, viết vào thời nào nữa.

Soạn giả ban đầu được cho là Trần Thế Pháp, một “danh sĩ” đời Trần, nhưng chẳng ai biết tiểu sử ông, thậm chí mù mịt cả năm sinh năm mất. Chỉ thấy trong “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn có ghi Lĩnh Nam chích quái là do Pháp soạn. Đến 1492 (niên hiệu Hồng Đức 23), Vũ Quỳnh nhuận chính, thậm chí chả hề đả động tới tên tuổi người soạn ban đầu. Rồi 1679, có người tên Nguyễn Nam Kim đưa thêm vào 4 truyện. Năm 1749, Vũ Đình Quyền phụng chỉ Lê Duy Diêu (sau khi băng, được tôn miếu hiệu Lê Hiển tông) soạn thêm 2 truyện. 1757, Vũ Khâm Lân lại soạn thêm đưa vào, không rõ nhiêu truyện. Sang đời Mạc, lại có Đoàn Vĩnh Phúc tham gia bổ sung truyền kỳ cho “Lĩnh Nam”. Tổng cộng, sách có 45 truyện, nhưng may thay, đến nay chỉ còn 22 truyện. Và truyện đầu tiên chính là truyện viết về họ Hồng Bàng.

Ngoại kỷ Toàn thư kể về Kinh Dương vương chính là cải biên từ tiểu thuyết thần kỳ “Liễu Nghị truyện” của Lý Triều Uy nhà Đường. Và hơn thế nữa, phần Kỷ mở đầu cho quốc sử An Nam đó lại được thực hiện bằng thao tác copy+paste. Thử so sánh, đây là Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư : “Kinh Dương vương. Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. (…) Xưa cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long quân (Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)” [3].

Và đây là đoạn mở đầu truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam Chích Quái : “Đế Minh cháu ba đời Viêm đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long nữ là con gái Long vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương vương không biết đi đâu mất” [4].

Dùng chuyện hoang đường làm chính sử, Ngô Sĩ Liên chẳng những có công tạo dựng tổ tiên cho nòi Hồng Lạc, mà còn làm điên đảo các học giả An Nam đời sau. Họ lũ lượt nhau vin vào cái nguồn cội hồ Động Đình, sự trùng hợp đồng âm giữa họ Hùng 熊 (con gấu) của các vua nước Sở với chữ Hùng 雄 (con chim trống, aka biết đạp mái) của Hùng vương. Kèm theo đó là cách gọi con gái vua Sở là Mị y hệt như Mỵ nương của An Nam. Từ đó hàng đống sách vở lý thuyết được đặt ra để nhận An Nam là giống hoàng gia của Sở, chắc cũng oai phong lắm, ngang hàng Hạng Tịch. Ít ai chịu dò lại gốc của họ Hồng Bàng kia là từ tiểu thuyết xà thần ngưu quỷ chui ra để nhận ra mình đặt giả thuyết trên nền tảng của một cú lừa ngoạn mục.

~~~~~~~~~~~~

[1] Quốc sử An Nam (kỳ 1)

[2] Đây là sự sao chép, không phải dị bản cổ tích. Sẽ lần lượt điểm các truyện trong Lĩnh Nam chích quái để đối chiếu và chứng minh.

[3] Nguyên văn : 涇陽王 諱祿續,神農氏之後也。炎帝神農氏三世孫帝明,生帝宜。既而南巡至五嶺,接得婺僊女,生王。王聖智聰明,帝明奇之,欲使嗣位。王固讓其兄,不敢奉命。帝明於是立帝宜為嗣,治北北,封王為涇陽王,治南方,號赤鬼國。王娶洞庭君女,曰神龍,生貉龍君〈按《唐紀》,涇陽時有牧羊婦,自謂洞庭君少女。嫁涇川次子,被黜。寄書與柳毅,奏洞庭君。則涇川、洞庭世為婚姻,有自來矣〉。

[4] Nguyên văn : 炎帝神農氏三世孫帝明,生帝宜,南巡狩至五嶺,得婺仙之女,納而歸。生祿續,容貌端正,聰明夙成。帝明奇之,使嗣位。祿續固辭,讓其兄。乃立宜為嗣,以治此〔北〕地。封祿續為涇陽王,以治南方,號為赤鬼國。涇陽王能行水府(一作入水),娶洞庭君龍王女,生崇纜,號為貉龍君,代治其國。涇陽王不知所之。

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Quốc sử An Nam (kỳ 1)


Như mặt trăng tách ra từ trái đất, thành hành tinh của địa cầu, An Nam (Bắc Việt) từ khi tách khỏi mẫu quốc Trung Hoa chưa bao giờ thoát khỏi ảnh hưởng của Tàu. Không phải chỉ người các nước khác, mà suốt ngàn năm nay, ngay chính Bắc Việt vẫn luôn tự nhận mình là “tiểu Trung Hoa”. Nguồn cơn ấy, có đọc Đại Việt sử ký toàn thư ta mới cảm thông phần nào tâm trạng các triều đại An Nam : Nỗi khắc khoải của đứa con bỏ nhà ra đi vì tưởng mình bị ruồng bỏ.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BỘ QUỐC SỬ

An Nam bắt đầu có quốc sử vào triều Trần, khoảng hậu bán thế kỷ XIII.
Trần Hoảng (Trần Thánh tông), thời gian tại vị (1258-1279) đã có nhiều nỗ lực củng cố và phát triển bộ máy nhà nước (tất nhiên là theo khuôn mẫu Trung Hoa). Ngoài các Thượng thư sảnh tương đương Lục bộ, có nhiều cơ quan mới được thành lập: Ngự sử đài có trách nhiệm giám sát công việc triều chính, Hàn lâm viện lo giấy tờ, Quốc tử giám chăm nom giáo dục cho các con quan, Thái y viện chăm sóc sức khỏe hoàng tộc, và Quốc sử viện để biên soạn lịch sử.
Đầu năm Nhâm Thân [niên hiệu Thiệu Long 15 (1272)]: “Mùa Xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu[1] Lê Văn Hưu vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên. Vua xuống chiếu khen ngợi” (theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ 5 – Thánh tông hoàng đế, tờ 33a-b).
Từ đó, bộ quốc sử này thành căn cốt của lịch sử An Nam (tức Bắc kỳ). Suốt 250 năm tiếp theo, các đời “sử gia” sẽ lần lượt chỉnh sửa nó theo ý vua mình, đời sau lại tô trát thêm vôi vữa lên, cho thành dung mạo 4.000 năm văn hiến An Nam.
Bộ Đại Việt Sử Ký (1272) triều Trần được bắt đầu bởi Triệu Đà và kết thúc vào lúc Lý Chiêu hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Suốt thời gian dài hơn 180 năm, nó cứ thế nằm im, ít ai biết đến. Thế rồi đến triều Lê thì các vì vua tỏ ra đặc biệt hứng thú với lịch sử, bắt đầu tìm cách đóng dấu ấn của mình lên đó. Vào 1455, Lê Bang Cơ (Nhân tông) sai Phan Phu Tiên lôi bộ sử ra, chép thêm giai đoạn từ Trần Thái tông cho đến khi quân Minh rút về nước. Lúc này (1455), bộ quốc sử vẫn mang tên Đại Việt Sử Ký.
Một phần tư thế kỷ sau, năm 1479, Lê Hạo (Lê Thánh tôn) sai Ngô Sĩ Liên chỉnh lý lần nữa. Đến đây, bộ sử có thêm họ Hồng Bàng với 18 đời Hùng vương, đổi tên thành Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt là Toàn thư).
30 năm sau, vào 1511, đến phiên Lê Trừu (Tương Dực đế) sai Vũ Quỳnh tiếp tục chỉnh lý, và đổi tên thành Đại Việt Thông Giám Thông Khảo (gọi tắt Thông giám).
Rồi 150 năm sau nữa, Duy Vũ (Lê Huyền tông) lại sai Phạm Công Trứ tiếp tục công trình chỉnh lý, chép thêm việc nước trong 13 năm (1663-1675) của triều đại mình vào, và gọi đó là Đại Việt Sử Ký Tục Biên. Đây cũng là lần tu sửa cuối cùng; bởi sau đó, nhà Nguyễn sẽ cho soạn bộ quốc sử riêng của mình, không chung đụng với lịch sử bọn Bắc kỳ[2].

SỰ “THẤT LẠC” CỦA QUỐC SỬ

Về tăm tích bộ quốc sử đầu tiên Đại Việt Sử Ký, các sử gia An Nam thường dẫn Văn Tịch Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú để đổ thừa rằng sách bị nhà Minh cướp mang về Tàu.
Điểm qua danh mục các sách được cho là bị Minh cướp đi[3], ta thấy số lượng sách quả là ít ỏi, mỗi đầu sách chỉ có 1 bản. Ở An Nam, nghề in khắc mộc bản đã xuất hiện từ cuối triều Lý, nhưng sách của hoàng thất được kể là bí mật quốc gia, không phổ biến ra ngoài, nên chỉ được lưu trữ một, hai bản chép tay, và cất kỹ trong bí các. Thành thử trách người một phải trách ta mười: là do bọn vua chúa muốn giữ sách vở làm của riêng nên mới phải dễ dàng cụt vốn đến vậy.
Nhưng điều đáng lưu ý là số phận bộ Đại Việt sử ký, có thật nó bị Minh cướp đi hay không? Nếu vậy, tại sao các bộ sử sau đó vẫn chép lại được những lời bình của Lê Văn Hưu? Câu trả lời nằm ở cung cách “biên soạn” quốc sử của An Nam: cứ đời sau “chỉnh lý” đời trước, chỉnh lý xong thì lấy bộ sử của mình làm chuẩn mực, bộ của tiền triều mặc nhiên bị mất đi tính chính thống đã có trước đó. Đại Việt Sử Ký sở dĩ thất truyền chính vì lẽ đó, giặc Minh chỉ là cái cớ các sử gia An Nam mượn để vu vạ mà thôi.

SỰ GIÃN NỞ CỦA LỊCH SỬ AN NAM

Vũ trụ giãn nở làm sao thì lịch sử An Nam giản nở y chang vậy. Ban đầu, Lê Văn Hưu lấy Triệu Đà làm mốc khởi điểm cho lịch sử Đại Việt đã là sự bắt quàng lố bịch, cốt để cho nước mình có hơi hướm của Tàu[4]. Đến Ngô Sĩ Liên thì mốc thời gian đó được đẩy lùi thêm 26 thế kỷ, để được tự xưng văn hiến Nam bang cũng ngang ngửa với thiên triều, ít ra cũng ở cái tuổi.
Trong những câu chuyện thần thoại quả có phần nào mang trong đó ký ức của dân tộc, nhưng với những thần thoại của An Nam thì phải cảnh giác: chúng thường vay mượn từ các điển cố thư tịch Trung Hoa. Ngay mấy dòng đầu bộ Toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã bê nguyên cốt chuyện của tiểu thuyết Tàu để xây dựng hình tượng thủy tổ tộc An Nam:
“Kinh Dương vương tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. (…) Vua lấy con gái Động Đình quân tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long quân (Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)” (Toàn thư, Ngoại kỷ, q.1, Hồng Bàng thị, t.1b).
Câu chuyện Lộc Tục lấy con gái Hà bá hồ Động Đình đó chính là chuyển thể từ “Liễu Nghị truyện” của Lý Triều Uy, một nhà văn đời Đường (776-820)[5].
Vậy là bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, tộc An Nam đã sinh thành tổ tiên cho mình. Công tạo hóa huyền cơ ấy là của Ngô Sĩ Liên, ông đã khéo chế biến cuốn tiểu thuyết của Tàu để cho ra một ông tổ Bắc Việt cưới vợ khác loài, đẻ được trăm trứng, từ đó tăng thêm ý vị đậm đà cho hai chữ “đồng bào” của dòng giống Rồng Tiên xàm xí mứng.
Đương thời, trong tác phẩm “Việt sử tiêu án”, Ngô Thì Sĩ từng công kích ông sử gia cùng họ về việc tiểu thuyết hóa lịch sử này. Sinh thời, nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cũng liên tục phê phán việc nhận quốc tổ cà chớn: “Cái nguồn gốc xưa cũ 4.000 năm đó là của các ông nhà nho chắp nối mớ sách vở các ông đọc được với phần nghe ngóng về cái đền Hùng vương ở xứ sở các ông, đem lập ra một tông phả không kể gì đến sự bình thường của luận lý, quên cả sự nhờ cậy để đến ngày nay người ta mỉa mai là bám víu trèo cao. Nhưng đó cũng được coi là sự bình thường của lịch sử, nên Ngô Sĩ Liên đưa vào quyển quốc sử, trở thành chân lý của muôn đời”[6]. Thậm chí trong diễn từ nhận giải Phan Châu Trinh năm 2014, ông cho cái Quốc hội đã quyết định lấy mùng 10 tháng Ba âm lịch làm ngày nghỉ lễ[7] là ngu dốt.
Xén tiền của doanh nghiệp để trao tặng cho người lao động toàn quốc thêm một ngày nghỉ lễ, đó là công nghiệp vĩ đại và có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của ngài Nguyễn Phú Trọng. Mà thật ra, bọn cầm quyền có ngu đâu mà tin ở cái thứ tổ tiên tào lao bí đao đó, chẳng qua hình tượng 18 vua Hùng đối với họ có ý nghĩa cực trọng – đó chẳng phải là một tập thể cùng được làm vua đó sao?

~~~~~~~~~~~~

[1] Giám tu 監脩: chức quan tạm thời, được đặt ra để giám sát quá trình thực hiện một hạng mục công trình nào đó cho đến khi công trình nó hoàn thành. Ở đây, Lê Văn Hưu là Học sĩ của viện Hàn lâm được kiêm cử làm chủ biên bộ quốc sử, khi biên xong bộ đó cũng là lúc chấm dứt nhiệm vụ. “Giám tu” không phải chức vụ đứng đầu Quốc sử viện như các “sử gia” An Nam sau này giải thích.
[2] Tức bộ Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán thời Minh Mạng và Thiệu Trị biên soạn trong gần 90 năm (1821-1909), chép các sự kiện từ 9 đời chúa Nguyễn cho đến đời vua Khải Định (từ 1558-1925). Bộ này gọi tắt là “Thực lục”; bởi triều Nguyễn được Bắc Việt đánh giá là “ngụy triều”, nên Thực lục cũng không được các sử gia Bắc Việt quan tâm.
[3] Theo Văn tịch chí, các sách quý hiếm của An Nam bị Minh cuỗm về Tàu làm của báu gồm:
– Lý Thái tông: Hình thư, 3 quyển
– Trần Thái tông: Quốc triều thông lễ, 10 quyển. Hình luật, 1 quyển. Kiến trung thường lễ, 1 quyển. Khóa hư tập, 1 quyển. Ngự thi, 1 quyển.
– Trần Thánh tông: Di hậu lục, 2 quyển. Cơ cừu lục, 1 quyển. Ngự thi, 1 quyển.
– Trần Dụ tông: Trần Triều đại điển, 2 quyển.
– Trần Nhân tông: Trung Hưng thực lục, 1 quyển. Thi tập, 1 quyển.
– Trần Minh tông: Thi tập, 1 quyển.
– Trần Anh tông: Thủy vân tùy bút, 2 quyển.
– Trần Nghệ tông: Bảo Hòa điện dư bút, 8 quyển. Thi tập, 1 quyển.
– Trần Quốc Tuấn: Vạn Kiếp bí truyền, 1 quyển. Binh thư yếu lược, 1 quyển.
– Chu Văn An: Tứ thư thuyết ước, 1 bộ. Tiều Ẩn thi, 1 tập.
– Trần Quốc Toại: Sầm lâu tập, 1 quyển.
– Trần Quang Khải: Lạc Đạo tập, 1 quyển.
– Trần Nguyên Đán: Băng Hồ thác tập, 1 quyển.
– Nguyễn Trung Ngạn: Giới Hiên thi tập, 1 quyển.
– Phạm Sư Mạnh: Hiệp thạch tập, 1 quyển.
– Trần Nguyên Đào: Cúc Đường di cảo, 2 quyển.
– Hồ Tông Thốc: Thảo nhàn hiên tần, 1 quyển. Việt Nam thế chí, 1 bộ. Việt sử cương mục, 1 bộ.
– Lê Văn Hưu: ĐẠI VIỆT SỬ KÝ, 1 bộ (Lịch triều hiến chương loại chí ghi “Đại Việt sử ký, 1 quyển”; Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì ghi “Đại Việt sử ký 30 quyển”. Do bộ sử gồm 30 quyển, nên ở đây gọi là 1 bộ).
– Nguyễn Phi Khanh: Nhị Khê thi tập, 1 quyển.
– Hàn Thuyên: Phi sa tập, 1 quyển.
– Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh tập, 1 quyển.
[4] Về Triệu Đà, sẽ bàn ở bài viết khác.
[5] Tóm tắt “Liễu Nghị truyện”: Liễu Nghị đi thi bị trượt, trên đường về thì gặp một thiếu phụ xinh đẹp. Nàng ta cho biết mình là con gái của Long vương cai quản hồ Động Đình, đã thành thân với con trai của Kinh Xuyên, nhưng bị chồng bạc đãi, bắt phải chăn dê. Cô Long nữ này nhờ Liễu Nghị báo dùm cha mình, để tố cáo hoàn cảnh khốn khổ đang phải chịu. Liễu Nghị bèn giúp đưa thư tới thủy phủ Động Đình. Nhà Hà bá nổi giận, giết con rể. Sau, Liễu Nghị cưới nàng Long nữ ấy. Hai vợ chồng đều thành tiên.
Câu chuyện Liễu Nghị lấy vợ này được các kịch tác gia đời Tống soạn thành tuồng, rất được người xem tán thưởng. nhờ đó, nó lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
[6] “Để vào đâu?” bài viết cuối cùng của Tạ Chí Đại Trường.
[7] Ngày 02/4/2007, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng ký sửa đổi bổ sung Điều 73 Luật lao động, cho người lao động thêm được 1 ngày nghỉ làm việc hưởng nguyên lương vào “giỗ tổ” mùng 10 tháng 3 âm lịch.

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | %(count) bình luận

Nymphe


Kình Văn : Lại đơn phương đòi ly dị này : Quốc hội Tô Cách Lan bỏ phiếu đề xuất trưng cầu dân ý ly khai Anh quốc.

Triều Dương : Dm, Arthur giờ sắp bị vợ bỏ rồi, ham hố tìm Chén Thánh làm gì.

Kình Văn : Cũng là chính trị cơ hội thôi, với lý do ly hôn để bảo toàn quy chế thành viên EU nhưng thực ra là muốn ly khai khỏi Anh quốc.

Triều Dương : Scotland ngoài whiskey ra thì có cứt gì đâu, nó cũng đéo thể bám đít mụ già EU được. EU chết thì nó phải quay lại với Anh thôi. Dm cái nền kinh tế cùi bắp !

Kình Văn : Dm, cay nhất là hôm qua, tôi nhập cái bài Cô gái Vùng Hồ vào bài Nymphe, lũ khốn Việt ngữ Wiki xóa đi. Dm lũ ngu, Lady-of-the-Lake (湖中妖女) khác đéo gì Nymphe mà phải tách đôi.

Triều Dương : Nymphe là một dạng nữ thần mà, thụ ảnh hưởng từ thần thoại Hi Lạp.

Kình Văn : Đấy là nhân vật đã dâng gươm cho Arthur, giống kiểu Động-Đình-long-nữ (洞庭龍女) ấy. Nó là một thứ yêu tinh chuyên sống ở đầm nước tối tăm, mà về sau tụi Nga biến thành Baba-yaga (Баба-яга), trong đấy “yaga” là cái đầm và “baba” là mụ già. Mụ phù thủy sống trong ngôi nhà chân gà, di chuyển bằng cái cối và cây chổi biết bay, thích ăn thịt trẻ con và kết bạn với rồng. Dm, lại cái lối tư duy “thuần Việt” ngớ ngẩn.

Triều Dương : Diễn nôm là yêu-nữ-trong-hồ.

Kình Văn : Cũng chưa chắc là thần thoại Hi Lạp gây ảnh hưởng, vì có thể nó là motif có tầm nhân loại như là Thượng Đế ấy.

Triều Dương : Thực ra Nymphe trong thần thoại Hi Lạp ai cũng biết.

Kình Văn : Nhưng tôi chỉ biết rằng, các dị bản hồi thế kỷ XII (thời điểm Lady-of-the-Lake xuất hiện, nhất là Le morte d’Arthur) nói tên của nữ thần này là Nimue, Ninianne, Nivian, Nyneve… dm chả Nymphe là gì ? Sau còn bị biến dạng thành Viviane, Vivien, Evienne… tôi nghĩ là cùng gốc cả. Cũng chưa rõ bên nào tiếp thụ bên nào, nhưng rõ ràng bản chất là một, thế việc quái gì phải phân biệt Lady-of-the-Lake với Nymphe, thế chả khác nào phân biệt Ngọc-hoàng An-nam với Ngọc-hoàng Trung-châu. Tôi nhớ hồi bé đọc một truyện Grimms là Con nam ở bờ ao, hồi ấy cứ thắc mắc “con nam” là cái gì, chỉ biết rằng được mô tả là nó có hình thể và giọng nói của gái trẻ, mãi sau mới nghe là mấy dịch giả diễn nôm cái nhan đề cho hợp văn hóa Việt. Chắc bản dịch đó từ lâu lắm rồi !

Một buổi sớm kia bác dậy đi ra ngoài hóng mát cho thoải mái. Lúc tia nắng đầu tiên đang le lói thì cũng là lúc bác bước tới mô đất cao gần nhà xay, bác nghe thấy có tiếng nước ùng ục. Ngoảnh lại bác thấy một người đàn bà đẹp từ từ nổi lên : Người ấy đưa bàn tay mềm mại vén mớ tóc dài xõa xuống hai vai, tóc dài che phủ cả tấm thân ngà ngọc. Bác biết ngay là con nam ở ao, nhưng sợ quá, không biết nên chạy trốn hay đứng lại. Con nam cất giọng êm ái gọi chính tên bác và hỏi tại sao bác buồn như vậy. Sau một lúc đứng lặng người, khi nghe giọng nói cởi mở thân mật của con nam, giờ bác thợ xay mới định thần lại, kể rằng trước sống sung túc, dư dật. Nay thì nghèo quá, chưa biết xoay sở làm sao.

Triều Dương : Gốc là Hi Lạp rồi, còn bản địa hóa thì đâu chả có. Chỗ nào là đất của La Mã thì dĩ nhiên sẽ có ảnh hưởng.

Kình Văn : Ừ, có lẽ vậy ! Nhưng ở đây, cái ý tôi đề cập là, khi bản chất vốn là một thì coi hình thức cũng là một cho xong.

Triều Dương : Dm Việt ngữ Wiki !! Dm Tân Tự Do !!!

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự giảng học xưa nay (kỳ 1)


Triều Dương : Vào Đại Đạo Trảm Phong mà xem con les đăng bài về Nam Định, thằng mặt lồn Hiếu Vũ thì nói phở là món Hà Nội, nói cùn ông Hải Anh phản bác thì đéo nghe… Dm, phải đem lũ lợn này ra cắt zái nhét đằng mồm rồi tuốt đao trảm thủ. Ôi dm, khoa Sử [Nô] đại học Nhăn Răng toàn lũ ngu lồn !

Kình Văn : Psamtik I ~ Sợ thật, dường như họ dùng song ký tự : Chữ Ai Cập có lẽ chỉ để giao tiếp với thần linh, còn chữ phổ dụng lại là Hi Lạp. Nhưng dkm, Việt ngữ Wiki đéo có một dòng nào về thành Thebai Bảy Cổng, đô thị vốn quan trọng thứ nhì và có lúc là thứ nhất.

Triều Dương : Rosetta stone ~ Việt ngữ Wiki như mấy thằng sử nô ở trường Nhăn Răng thôi. Argos, Thebai… gần như đéo có gì, nói chung mấy thành bang thuộc Attika hay Peloponnesos gần như vắng bóng.

Kình Văn : Trong thần thoại thì Thebai là đô thị quan trọng nhất, hầu như mọi anh hùng đều liên đới thành bang đó.

Triều Dương : Dù sao thì kinh viện triết học giai đoạn trung thế kỷ cũng không quan trọng lắm đâu. Nắm được Aristoteles, Thánh Kinh, và các nghi lễ cũng như giáo luật thì cơ bản hiểu được rồi. Mảng trung đại khó nhằn cũng phải, rất khó để định hình rằng bắt đầu từ đâu. Tông giáo, thần học, xã hội, chính trị, hay văn chương… mỗi cái đều chồng lấn cả.

Kình Văn : Để hiểu được triết học, cái tiên quyết là phải đọc văn chương. Như hiện sinh ấy, nó là một trào lưu triết học nhưng đéo có “kinh thư”, thành ra phải đọc Franz Kafka, Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Samuel Beckett. Nho giáo thì bản chất Tứ Thư Ngũ Kinh là TRUYỆN, chúng không phải lý thuyết khô khan. Nên tôi thấy, chính ra giáo dục hoàn cầu kể từ thế kỷ XIX quá nặng lý thuyết, và đúng ra thì sự học hành dựa trên lý thuyết là một thói quen của thời đại công nghiệp hóa, khi mà cái đéo gì cũng muốn nhanh, ngay và luôn. “Chủ trương”, “khái niệm”, “định nghĩa”… là những cách hiểu rất mới về học thuật.

Triều Dương : Vốn dĩ sử thư thời cổ Hi La được coi là văn chương và nên đối xử với chúng như văn chương. Mà vốn dĩ các tác giả (thật hay được đời sau gán cho) đều không nói quan điểm của mình là đúng hay sai, và cũng không ai đưa ra “khái niệm” hay “định nghĩa” cụ thể cho những điều họ cổ xúy, ai tin hay diễn giải thế nào là việc của từng cá nhân. Toàn thư của Platon thực ra cũng chỉ là các cuộc đối thoại, tức là phương thức rất cơ bản thôi.

Kình Văn : Phương pháp giảng học cổ điển là THỤ GIẢNG và NGHỊ LUẬN, không hề có sự đọc chép hoặc thuộc để chép lại đâu nhé. Đó là trò lố bịch của thời đại bánh xích phần mềm.

Triều Dương : Cái trò khái niệm hóa là thứ ngu lồn, dm ngày càng phải dựa vào khái niệm để lý giải các hiện tượng.

Kình Văn : Ngay cả khoa cử Á Đông cũng đòi hỏi tính sáng tạo rất cao, nếu không nói là hơn bây giờ, tức là người ta cho câu nào hoặc ý nào đó và buộc sĩ tử phải phẩm bình. Magdalina Truồng là sản phẩm điển hình của chủ nghĩa khái niệm (definitionism), giằng co với ai cũng chỉ cố bẻ người ta bằng mỗi câu : Điều bạn nói trích từ nguồn nào (tất cả, trừ chính y). Sùng bái lý thuyết một cách điên cuồng và bệnh hoạn, và tức là, mày chỉ được phép chơi theo luật của tao thôi, còn những gì mày đưa ra đều vô hiệu. Cách tư duy đó vốn dĩ sáo rỗng (với xưa) và lỗi thời (với nay), tại vì : Không tin lập luận, chỉ thích chứng cứ (dù là ngụy chứng). Khác đéo tụi hủ nho thời trước, trích lời thánh hiền và không dám nêu chủ kiến. Mà tôi nói chớ, khoa cử xưa không hề chèn ép sự sáng tạo đâu nhé, cho nên chỉ có tự những kẻ đó tạo ra hàng rào bảo vệ quan điểm riêng thôi. Đơn giản vì kém nên mới phải bố phòng bằng sự dẫn nguồn, hay đúng ra là mặc áo do người khác may.

Triều Dương : Con điên này phải chịu khó đọc lại Platon thì may ra mới hiểu thế nào là tư duy và lập luận. Dm khái với chả niệm, thế khác đéo gì sỉ nhục đám Sophistes cổ đại, phải bám vào cái gì đấy để phòng thân. Nói chung thì, phế thải Bolsa aka Nam Cali và kiêm nhiệm tạp phẩm UC Irvine.

Kình Văn : Tin tôi đi, trình độ lũ người lợn Đại Đạo Trảm Phong chỉ tương đương đám học ngu phải ra đường viết đối liễn hồi xưa thôi – chứ giỏi thì đã ra làm quan, cần gì bám mặt đường kiếm ăn độ nhật. Mấy người hỏng thi cũng chẳng ai đi viết chữ dạo cả, nên nói thẳng ra là tụi nó không chen vào hoạn lộ nổi (không tiền, không tài).

Triều Dương : Có não mà để làm cảnh, được đi học nhưng đéo biết học, được đọc sách nhưng đéo chịu đọc… zombie cả lũ. Vầng, hết thanh niên “phở là món Hà Lội”, lại đến con les mặt nồi “cái gì Pháp xây thì không phải cổ phong”. Dm, hài đéo chịu được ~

Kình Văn : Ồ, nghiên cứu vú đít cổ phong là ngon rồi, nên về dưới lầu hoa của Kim Bảo Bà mới phải.

Triều Dương : Bảo chúng nó lên thiendia mà bán dâm, toàn bọn đầu đất. Mẹ dầu Kim Như dạo này bị viêm âm đạo hay sao mà chưa tái xuất ?

Kình Văn : Sau cú khoe “cuốc lồn dâm tặc” ở bảo tàng thì Bảo Bà chắc tã lắm rồi, phải tẩm bổ cho khỏe còn lột trần lịch sử tiếp chớ. Giờ phải kiếm thật nhiều rau răm, sắc đặc vào, thế mới chóng lành bịnh được.

Triều Dương : Địt !

Categories: ❀ VĂN SỬ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: