❀ VĂN SỬ

風化·歷史

Dịch thuật và hiệu đính


Triều Dương : Như kiểu Omega, toàn thuê đám nghiệp dư biết ngoại ngữ nhưng dốt văn hóa đi chuyển ngữ, thì chỉ càng khiến văn hóa Việt Nam tệ đi. Bọn trẻ bây giờ đọc mấy thứ văn do Nhã Nam, Alphabooks soạn, bảo sao diễn đạt càng tệ. Với mức thù lao như thế, khác gì bỏ tiền ít đòi thuê siêu nhân.

Kình Văn : Cũng giống bọn dở hơi Con Sóc thôi, thuê tí tiền mà đòi dịch hay, có cái cứt. Cứ cho là nó nhất Vietnam, nhất vũ trụ như tự xưng đi, nhưng trả lương bèo thì có chó nó hay.

Triều Dương : Làm chó gì có chuyện làm việc đồng thời vs 3 ngôn ngữ : Anh văn, Việt văn, Cổ Hi Lạp văn. Đòi trong 2 tháng rưỡi cho kịp tién độ, thời nay toàn kịp tiến độ để nhanh bán thôi.

Kình Văn : Giờ toàn lương bèo nên đéo đứa nào dịch ra hồn đâu, cái gì cũng có giá của nó.

Triều Dương : Lương bèo là một phần, cái chính là chúng nó cũng chỉ quan tâm bán hàng.

Kình Văn : Ông tham tiền và không chia được cho ai xứng đáng thì nó chưa phản ông là may, đòi hay ho thì còn lâu.

Triều Dương : Dịch giả Tây phương họ dịch là để thể hiện trình độ, và thứ đến là ghi vào CV thành tích nhằm tiến thân trong học giới.

Kình Văn : Thì vấn đề là bên đấy phúc lợi xã hội cao, nên dù lương thấp nhưng chỉ là vàng thêm vàng thôi.

Triều Dương : Tiền đãi ngộ họ so với kì công bỏ ra, nhất là với cổ văn, trung đại văn, nhưng họ vẫn cực kì chuyên chú. Học thuật Việt Nam như ông Dương Râu vẫn hay lấy Âu-Mĩ làm quy chuẩn, nhưng tôi thấy ông Dương không có tinh thần khoa học theo đúng kiểu Hi-La, Cơ Đốc. Vì căn bản ông ấy chỉ phỏng theo học thuật thế kỉ XXI.

Kình Văn : Đám như ông Dương được nuôi nên nhàn hơn một tí so với số đông, nhưng căn bản là đéo có ai dẫn dắt, toàn tự mò mẫm
nên chỉ đến thế là hết phép. Chí ít thì các ông ấy không gặp khó khăn khi in sách, chứ cũng mặc áo vải uống nước lã ở nhà lá như tụi mình thôi.

Triều Dương : Có người hẫu thuận nên ấn loát không phải ưu tư, cái chính là nếu cứ phỏng học thuật thế kỉ XXI sau đó quy chiếu sang học thuật Việt Nam thì chạy mãi mà vẫn đuổi không kịp. Đơn giản vì cái gốc không nắm, mà học thuật thế kỉ này đã tiến bộ nhiều so với vài thế kỉ trước đó, nhưng sang XXII thì nó sẽ lạc hậu.

Kình Văn : Mà có cái vấn nạn là ở Vietnam khi in sách kiểu đéo gì cũng bị biên tập theo hướng chữ tác ra chữ tộ. Không chỉ tôi và ông đâu, mấy ông quan chức và cả các thầy tôi cũng thế. Căn bản là do không có luật về biên tập, hiệu đính gì. Luật kiểm duyệt thì có, nhưng biên tập lại không. Cho nên mấy thầy tôi toàn bỏ tiền ra in đấy chứ, lắm ông còn phải nhịn ăn nữa mà, sướng đéo gì. Giờ tụi nó bán sách chứ có quan tâm gì người ta đọc đâu !

Triều Dương : Tây dương tụi nó cũng bẩn bựa, nhưng làm văn hóa, học thuật vẫn nghiêm túc chán. Với chúng nó, Hi-La, Cơ Đốc, văn hóa kị sĩ, lãnh chúa là nền tảng, vứt hết đi thì Âu châu đéo còn gì. Cũng như Việt Nam, đéo có người Hoa và Khổng giáo thì mãi mọi rợ.

Advertisements
Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thành-kiến áp-bách thành-kiến


Triều Dương : Mà ông kệ bọn Wiki Việt ngữ đi. Toàn lũ ngu nhưng thích lộng ngôn, coi văn như cỏ rác.

Kình Văn : Mấy bữa nay tôi cay cú thôi, vô mà coi cách nó giả nhời tôi đấy ! Đại loại : Tao chấp nhận là lưu manh và mày không thay đổi được gì.

Triều Dương : Nói chung, thảo luận kiểu mạt sát và cùn như đám bảo quản viên Wiki. Hoàn toàn vô nghĩa, có biết Hán Nôm đâu mà đi cãi.

Kình Văn : Thì cái gốc đéo ra gì, ngọn tốt thế nào cũng chỉ vậy thôi. Quan điểm của tụi Wiki là, khi có ít nhất một người không hiểu chữ A thì nên bỏ chữ A để dùng chữ nào dễ hiểu hơn nữa. Cho nên mới có trò luận chữ ngô nghê như kiểu “gia đình hoàng gia”. Tôi đã nói là tôi ghét cái trò đi gõ cửa từng nhà xin người ta hiểu chữ mà. Cực kỳ đa cấp !

Triều Dương : […] Tôi chỉ đơn cử từ barbaroi, dịch là “man tộc” thì hắn đéo chịu. Đã bảo hắn là dịch “man” thì sẽ lợi hơn. Ví dụ : man nhân (số ít), man ngữ… Chứ mẹ kiếp, “ngoại chủng” là cái cục gì ? Làm chó gì có khái niệm chủng tộc cách đây 2500 năm.

Kình Văn : Dm, chữ “man tộc” được coi là thuật ngữ cấp khoa học bên Tàu rồi, từ đó giống như một dạng “khóa” để hiểu cách đám khoa học gia diễn giảng các vấn đề dân tộc học.

Triều Dương : “Man tộc” không hề có tính chất miệt thị đâu ông, tùy văn cảnh.

Kình Văn : Thì có ai bảo miệt thị đâu !

Triều Dương : Vào thời Herodotos thì đúng là dịch “man” theo nghĩa đen không hẳn đúng, nhưng cũng chả sai. Hi-La cũng như Trung Hoa, đều coi đám không khai hóa, không nói được ngôn ngữ của mình là man.

Kình Văn : Hồi thế kỷ XVIII người ta còn gọi sứ trắng sơn lam là “china” đấy thì sao, mãi sau này mới sửa là “porcelain”. Đây gọi là THÀNH KIẾN, nhưng với khoa học, không được dùng thành kiến lý giải thành kiến. […] chứ không phải là đổ cứt vào mâm cơm như tụi Wiki. Dm cái ngữ đã học kỹ thuật lại đang thất nghiệp mà đòi sửa Anh-quốc liệt-vương sử thì còn gì mà nói nữa !

Triều Dương : Dân kĩ thuật y sinh nói chung cứng nhắc và giáo điều.

Kình Văn : Bọn đó nói làm gì nữa, đến bọn kiến trúc còn đần, không tư duy trừu tượng nổi.

Triều Dương : Thay vì dùng cây thương thì hắn dùng cây giáo, còn bảo với tôi là chỉ kị binh dùng thương. Tôi tự nhủ : Mẹ kiếp, tả văn chứ tả binh khí chó đâu mà phải nhìn từ góc độ kĩ thuật.

Kình Văn : Thì đó, vẫn là suy nghĩ bằng đít, mô tả trận đánh mà toàn đinh vít bù lông, đếm coi trận Normandie tốn bao lít xăng và bánh xích.

Triều Dương : Thương binh thì cho là nhầm lẫn với thương phế binh, thế lính dùng thương không gọi “thương binh” gọi “tay giáo” mới vl. Nói chung, ngộ tiểu thuyết Trung Hoa nên có thứ kiến giải đần độn. […] Trình đâu đủ mà làm, dù sao thì trứ tác văn chương này vào tay trẻ trâu còn tệ nữa.

Kình Văn : […] làm tớ thằng khôn vẫn hơn. Tôi thà làm chân sửa giày cho trùm Phan Quân chứ đéo ngu làm phó tướng cho anh em Tuấn-Tú.

Triều Dương : Đủ để ông thấy làm ăn toàn chụp giật thôi. Nhà Tri Thức thì cũng rứa, chẳng qua bộ sậu toàn thủ cựu, toàn sách học thuật chứ chẳng được tí văn chương nào. Đến Văn Học giờ đói mốc mồm phải rao bán giấy phép xuất bản. Cái hay của ngôn ngữ nằm ở chỗ, nếu ông là người biết thưởng văn, hiểu thi pháp thì dù đọc từ ngôn ngữ trung gian (với điều kiện bản dịch sát và thể hiện được sắc thái) thì ông vẫn có thể cảm được cái hay. Chứ không phải như đám thích thuần Việt “Lịch sử các vị vua nước Anh”. Ông nghe có thấy ngu xuẩn không ?

Kình Văn : […] làm tớ thằng lưu manh thì phải chịu thôi.

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Văn học Phần Lan


Văn học Phần Lan (tiếng Phần LanSuomen kirjallisuustiếng Thụy ĐiểnFinsk litteraturtiếng NgaЛитература Финляндии) là thuật ngữ bao hàm các hoạt động sáng tác, phê bình và ấn loát ngữ văn học của người Phần Lan.

Pukstaavi, bác vật quán văn họcPhần Lan tại Vammala[1].

Lịch sử

Khu vực thường được phiếm chỉ là trung tâm văn học Phần Lan, các miền rìa là nơi chịu tác động tương hỗ.

Mặc dù được ghi nhận là một trong những nền văn học xuất hiện muộn nhất địa vực Âu châu, nhưng Phần Lan thường được mệnh danh Ngôi sao phương Bắc vì những thành tựu khiến nhiều nền văn học lâu đời phải ganh tị. Cái bất thường của nền văn học từ khi ra đời đến nay là hầu như không song hành ngôn ngữ bản địa, cho dù ngôn ngữ Phần Lan cũng có lịch sử ít nhất một thiên niên kỷ. Trong thực tế, các giá trị tạo nên văn học Phần Lan lại không hữu hạn trong quốc thổ mà tỏa ra Thụy ĐiểnEstoniaNga và đặc biệt Karjala – miền đất huyền thoại này được coi là khởi thủy dòng văn học tiếng Phần Lan. Do vậy, thuật ngữ văn học Phần Lan còn có tính quốc tế khá cao.

Do nhiều biến cố lịch sửvăn học Phần Lan được cấu thành trên ba ngôn ngữ : Thụy ĐiểnPhần Lan và Nga. Vì thế, đôi khi Phần Lan được giới phê bình gọi vui là nền văn học chân thiên nga[2]. Trong đó, văn học tiếng Thụy Điển có giá trị cao nhất và khối lượng cũng đồ sộ hơn cả. Sau Đệ nhị Thế chiếnchính phủ Phần Lan cùng các cơ quan đặc trách văn hóa đã ra sức nâng tầm tiếng Phần Lan thành quốc ngữ, qua đó dòng văn học tiếng Phần Lan có sự tăng trưởng mạnh hơn các thời trước. Tuy nhiên, dòng nghệ thuật này lại phổ biến ở Karjala và Estonia hơn.

Ngày nay, văn học Phần Lan được san xẻ chung giữa Na UyThụy ĐiểnPhần LanNga và Estonia như bộ phận rất quan trọng cấu thành văn hóa mỗi quốc gia. Tại LatviaLietuvaBelarus và Ba Lan, thậm chí Komi từ đầu thập niên 1990 đã diễn ra những tranh luận sôi nổi trong vấn đề có hay không công nhận dòng văn học Phần Lan từng tồn tại trong diễn trình lịch sử văn học xứ mình, nhiều quan điểm cho rằng đã tới lúc cần chấp nhận nó như một đặc tính bản địa thay vì coi là ngoại lai.

Văn học dân gian

Văn học dân gian được truyền tụng một trong không gian rất rộng và có lịch sử vô cùng phức tạp. Mặc dù có vài chứng tích cho thấy văn học cổ đại Phần Lan đã có lúc được ký âm bằng những tự dạng bản địa và thậm chí còn lưu danh trạng tác giả, nhưng dường như hiện tượng đó không phổ biến. Phần Lan san xẻ hệ thống hình tượng huyền thoại đôi chỗ khá giống những gì đã diễn ra tại Na UyThụy ĐiểnNga và thậm chí Cymru, nhưng ít đồ sộ bằng và thường được coi là vùng văn học giao thoa Bắc ÂuĐông Âu.

Trứ tác hệ trọng nhất để hiểu cấu trúc văn học dân gian là sử thi Kalevala do nhà sưu tầm văn nghệ dân gian Elias Lönnrot bổ khuyết và ấn hành năm 1835. Tính chất các nhân vật thường tương đối dung dị và hành trạng thường giàu chất thơ – một đặc điểm rất khó thấy trong thần thoại Bắc Âu. Cũng vì thế, học giới không đánh đồng văn học dân gian Phần Lan với các quốc gia Bắc Âu khác, một số học giả Anh quốc còn ngỏ ý khâm phục tính thuần khiết và đặc trưng của dòng văn chương này.

Aino-Triptych by Akseli Gallen-Kallela 1891. Left: The first meeting of Aino and Väinämöinen. Right: Aino laments her woes and decides to end her life rather than marry an old man. Middle: The end of the story arc – Väinämöinen catches the Aino fish but is unable to keep hold of her.

Văn học thành thư

Chief executive officer Heikki Reenpää attaches the publishing house Otava’s badge for merit, the Agricola medal, on Sillanpää’s lapel. Otava had ”redeemed” the author from WSOY in the late 1920s.

Khác với văn học dân gian, dấu hiệu của văn học thành thư Phần Lan chỉ từ giữa thế kỷ XVI với bản dịch Tân Ước từ tiếng Hi Lạp sang tiếng Phần Lan (1543) bởi đức giám mục Mikael Agricola. Nhờ vậy, ông được suy tôn là quốc phụ của chữ Phần Lan. Nhưng qua ba thế kỷsau, khi sử thi Kalevala được ấn hành (1849), văn học tiếng Phần Lan mới có chỗ đứng. Và đến năm 1870, với việc xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay Bảy anh em của tác gia Aleksis Kivivăn học Phần Lan bắt đầu phát triển mạnh và dần tạo nên bản sắc[3][4]. Tuy nhiên, văn học tiếng Thụy Điển vẫn tồn tại vững vàng và không ngừng lớn thêm, hàng loạt tác gia lừng danh vẫn chuộng thứ ngôn ngữ này và họ hoàn toàn không xem nó là thứ tiếng ngoại lại, điển hình như Johan Ludvig RunebergJohan Vilhelm SnellmanZacharias Topelius[5][6].

Năm 1939, tác gia Frans Eemil Sillanpää gây tiếng vang trên văn đàn thế giới với giải Nobel Văn học, và từ đây văn học Phần Lan vươn khỏi Bắc Âu và được học giới quốc tế nghiên cứu cũng như phiên dịch ngày càng nhiều. Năm 2015, Phần Lan lại có nữ văn sĩ Sofi Oksanenvào danh sách 116 người được đề cử Nobel Văn học dù tác phẩm đầu tay của bà xuất bản cách đó chưa lâu (2003).

Theo dữ liệu của FILI, mỗi năm có từ 300-400 văn phẩm Phần Lan được dịch ra khoảng 40 ngôn ngữ. Doanh thu từ việc bán bản quyền của các nhà xuất bản và các công ty phát hành Phần Lan trong 4 năm gần đây liên tuc tăng, đạt trên dưới 2 triệu euro/năm (năm 2014 là 2,2 triệu, năm 2013 là 2, 25 triệu, năm 2012 là 1,98 triệu và năm 2011 là 1, 26 triệu). Thị trường xuất khẩu sách lớn nhất của Phần Lan là Đức, Anh, Mỹ và Liên bang Nga.

Năm 2015, văn học Phần Lan gặt hái những thành công lớn nhất từ trước trên văn đàn thế giới. Chỉ tính tới trung tuần tháng 12 đã có tới 800 tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, trong đó nhiều nhất là tiếng Anh (26 tác phẩm), Pháp (18), Đức và Đan Mạch (17). Đáng chú ý là một số nhà văn và tác phẩm văn học Phần Lan được một số tờ báo có uy tín trên thế giới như The New Yorker (Mỹ), The Guardian (Anh) đánh giá cao và có tác giả lọt vào danh sách chung khảo của giải thưởng Arthur C. Clarke.

Văn hóa

Văn học từ truyền thống Kalevala

Tượng đài Elias Lönnrot và Väinämöinen tại Helsinki. Ngày nay Kalevala lĩnh vai trò quảng bá văn hóa Phần Lan ra quốc tế.

Khác với nhiều sử thi lừng danh từ cổ đại, Kalevala không phải là một sử thi được tái tạo lại từ những mảnh vụn của một sử thi cổ bị tan vỡ theo thời gian. Kalevala do giáo sư, bác sĩ, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu dân tộc học và văn hoá dân gian nổi tiếng Phần Lan, Elias Lönnrot (1802-1884) biên soạn dựa trên những bài thơ, bài dân ca, truyện cổ, truyền thuyết dân gian của Phần Lan và Karelia được ông và các đồng nghiệp sưu tầm trên đất Phần Lan và vùng Vienna. Kalevala được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1835 gồm 12.078 câu thơ, chia làm 35 ca khúc (ngày nay được gọi là Kalevala cũ) và lần thứ hai năm 1849 với 22.795 câu thơ, được chia làm 50 ca khúc (gọi là Kalevala mới). Kalevala mới (được coi là bản Kalevala trọn vẹn) là kết quả 15 năm làm việc với 11 chuyến sưu tầm điền dã của Elias Lönnrot. Ngày nay, ở Phần Lan cũng như ở nước ngoài, khi nói về Kalevala người ta thường nói đến Kalevala mới[7]. Kalevala là bách khoa thư về lịch sửvà con người Phần Lan được biên soạn theo thể thơ truyền thống, mỗi câu gồm 8 âm tiết (hay 8 nhịp) của Phần Lan, dựa theo làn điệu của âm nhạc dân gian. Khi Kalevala chưa ra đời, thể thơ này không có tên. Vì thế sau khi Kalevala được xuất bản, thể thơ này được gọi là Thể thơ Kalevala. Đồng thời cũng từ đó việc sưu tầm văn học dân gian Phần Lan nhanh chóng lan rộng và nguồn tư liệu sưu tầm được hết sức phong phú. Trong vòng mười lăm năm giữa hai bản Kalêvala, Lönnrot cùng các cộng sự sưu tập được thêm gần 130 000 câu thơ. Với nguồn tư liệu này Elias Lönnrot đã phát biểu rằng có thể biên soạn thành bảy bản Kalevala khác nhau mà Kalevala mới như ngày nay chỉ là một trong số đó.

Sau khi Kalevala được xuất bản, một phong trào “tìm về bản sắc” đã lan rộng ở Phần Lan. Nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và những người yêu thích văn hóa dân gianđã theo dấu chân ông đi sưu tầm tư liệu ở phía Đông Phần Lan và Karjala của Nga để sưu tầm văn học dân gian còn lưu giữ ở những vùng này. Bên cạnh hai bản Kalevala cũ và mới, năm 1862 Elias Lönnro còn rút gọn Kalevala mới thành một bản Kalevala ngắn gọn với 9 732 câu thơ dành cho trường học, được gọi là Kalevala học đường.

Kalevala đã trở thành một trong những biểu tượng văn hoá quan trọng nhất của Phần Lan. Với Kalevala, người Phần Lan cho rằng dân tộc họ cũng có một lịch sử và một nền văn hoá riêng : “Với những ca khúc bất tử này trong hành trang, người Phần Lan đã có thể dũng cảm và tự tin nhìn về quá khứ của mình và có thể nhìn thấy được tương lai của dân tộc. Người Phần Lan đã có thể kiêu hãnh nói : Tôi cũng có một lịch sử !” (J.G. Linsen, 1835). Đồng thời Kalevala được coi là chiếc cầu nối Phần Lan với thế giới bên ngoài : “Khi làm nên Kalevala, nhân dân Phần Lan đã làm cho mình một con đường xuyên qua núi đá cheo leo, không những chỉ tiến đến châu Âu mà đến cả thế giới văn minh. Kalevala sáng chói như Bắc Đẩu trên trời cao, kể cho toàn nhân loại nghe về bộ tộc Phần Lan” (M.J. Eisen, 1909).

Kalevala là đề tài và là nguồn cảm hứng sáng tạo cho rất nhiều thế hệ văn nghệ sĩ Phần Lan cũng như ngoại nhân. Rất nhiều cơ quan, tổ chức của Phần Lan cũng như quốc tế đã lấy Kalevala cũng như tên gọi các nhân vật trong Kalevala làm tên gọi cho mình. Rất nhiều đường, phố ở các thành phố, địa phương trên khắp Phần Lan mang tên các nhân vật, địa danh trong Kalevala. Sau khi ra đời, Kalevala đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của nước ngoài và các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu nó như là một trứ tác thuộc thi ca dân gian chân thực[8].

Từ năm 1950, ngày 28 tháng 02 năm 1835 – ngày Elias Lönnrot đề danh dưới lời tựa Kalevala cũ đã trở thành Ngày Kalevala và được coi là một ngày lễ không chính thức của Phần Lan. Từ năm 1978, Ngày Kalevala trở thành Ngày Văn Hóa Phần Lan và được nghị viện quy định là một ngày lễ chính thức của quốc gia. Trên thế giới có lẽ hiếm có quốc gia khác giống như Phần Lan : Lấy ngày ra đời của một tác phẩm văn học làm ngày lễ lớn của dân tộc. Hàng năm vào ngày này khắp nước treo quốc kỳ và tổ chức các hoạt động văn hóa có liên đới Kalevala. Ở Phần Lan, bên cạnh Hội Kalevala còn có Juminkeko là một cơ quan chuyên về sưu tầm, nghiên cứu Kalevala và bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa vùng đất Viena, cái nôi của Kalevala. Juminkeko đang thực hiện nhiều dự án nhằm khôi phục lại các làng thơ ở Viena, một trong số đó vừa nhận được giải thưởng về bảo tồn văn hoá của EU năm 2006.

Cho đến nay Kalevala vẫn là tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học Phần Lan đóng góp vào kho tàng văn học của nhân loại và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài nhất của văn học nước này. Kalevala đã được dịch ra 57 thứ tiếng trên thế giới, trong đó nhiều thứ tiếng đã dịch nhiều lần dưới nhiều dạng khác nhau : Tiếng Thụy Điển (22), tiếng Anh (21 bản), tiếng Đức (14), tiếng Nhật (14), tiếng Estonia (14), tiếng Tây Ban Nha (12), tiếng Nga (10)… Riêng tiếng Việt, Kalevala cũng đã có 3 bản dịch khác nhau, trong đó có 2 bản tóm tắt bằng văn xuôi (của Nguyễn Xuân Nghiệp, Hoàng Thái Anh) và 1 bản dịch trọn vẹn bằng thơ xuất bản năm 1994 (của Bùi Việt Hoa).

Song ảnh hưởng của sử thi Kalevala không chỉ giới hạn trong phạm vi Phần Lan, mà dần dần lan rộng ra các nước khác trên thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã vận dụng phương pháp biện soạn Kalevala của Lönnrot, kết nối thơ ca dân gian của dân tộc mình thành sử thi hoàn chỉnh. Có thể kể ra đây một số như: The Song of Hiawatha (1855) của H. W. Longfellow, được coi là sử thi của người Mỹ; Kalevipoeg (Con trai của Kalevi, 1862) – sử thi Estonia của F. R. Kreutzwald; Làplèsis (Chàng giết gấu, 1888) sử thi Latvia của A. Pumpurs; và gần đây nhất là sử thi Mordvin, Mastorava (Mẹ đất, 1994) của A. Saronov. Gần đây các sử thi Con cháu Mon Mân của Bùi Việt Hoa xuất bản năm 2008 ; Virantanaz (sử thi của sắc tộc Vepsä) do nhà nghiên cứu ngôn ngữ Niina Zaitseva biên soạn năm 2012 và sử thi Liekku (sắc tộc Inkeri) của tác giả Mirja Kemppinen ra đời năm 2013 cũng được biên soạn dựa trên phương pháp và hình mẫu của Kalevala[9].

Văn học từ truyền thống bảo trợ

Các yếu nhân SKS năm 1846.

Hiệp hội Văn bút Phần Lan (Suomalaisen Kirjallisuuden Seura, SKS) được thành lập từ rất sớm (1831), ban đầu chỉ có ý nghĩa quy tụ các bút nhóm rải rác thành một lực lượng văn hóa mạnh để tránh tình trạng công kích lẫn nhau trên mặt báo, sau phát triển dần thành một nghiệp đoàn với chức năng nâng đỡ nghệ sĩ và bảo trợ xuất bản những trứ tác có giá trị từ vừa phải đến rất cao. Kể từ sau Đệ nhất Thế chiến, hội đứng ra lưu trữ và quảng bá văn học Phần Lan, ngày nay còn kiêm vai trò của một cơ quan bảo tồn và phát triển tiếng Phần LanHiệp hội Văn bút Phần Lan giữ mối tương liên chặt chẽ với các phường văn học Karjala và Estonia, đồng thời đứng trong một liên minh văn hóa với hội văn bút Na UyThụy Điển và Ireland.

Năm 1977, hội lập ra Cơ quan Giao hoán Văn học Phần Lan (Finnish Literature Exchange, FILI) với sự đài thọ 80% kinh phí hoạt động mỗi năm từ chính phủ. Cơ quan này có trách nhiệm :

  • Tạo những cuộc giao hoán, giới thiệu tác phẩm mới của văn sĩ và dịch giả quốc tịch Phần Lan.
  • Tạo những khóa tập huấn dịch thuật cho dịch giả Phần Lan hoặc ngoại quốc.
  • Tạo những chuyến viếng Phần Lan cho giới xuất bản quốc tế.
  • Tham dự các hội chợ sách Phần Lan hoặc ngoại quốc.
  • Cập nhật và duy trì ngân hàng dữ liệu văn học Phần Lan đã được dịch sang ngoại văn và quản lý doanh thu bản quyền.

FILI lại lập thêm tạp chí Book from Finland nhằm cập nhật tiêu tức văn học Phần Lan cho độc giả quốc tế. Cho tới đầu thập niên 2000, FILI là một trong những tổ chức gây thu nhập lớn nhất cho quốc khố Phần Lan và đang tự định hình là cơ quan đặc trách vấn đề văn học Phần Lan cho sinh viên ngoại quốc bất kể có hay không du học nước này. Thượng tuần tháng 5 năm 2017, FILI đổi danh xưng là Trung tâm Giao hoán Văn học Phần Lan và chính thức tách khỏi hội văn bút để hoạt động như một cơ quan xiển dương văn học.

Tham khảo

  1. ^ https://finland.fi/fr/culture/la-litterature-finlandaise-aujourdhui-un-monde-de-voix/ La littérature Finlandaise aujourd’hui : Un monde de voix]
  2. ^ Heikkilä, Tuomas (2010). Kirjallinen kulttuuri keskiajan Suomessa, Historiallisia tutkimuksia 254,”. Suomalaisen kirjallisuuden seura. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
  3. ^ Sihvo, Hannes. “Kivi, Aleksis (1834 – 1872)”The National Biography of Finland. SKS. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
  4. ^ “Juhani Aho”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
  5. ^ Wiegand, Wayne A.; Davis, Donald G. Jr. (1994). “Encyclopedia of Library History”Google Books. Garland Publishing. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2017.
  6. ^ Krogerus, Tellervo. “Canth, Minna (1844 – 1897)”The National Biography of Finland. Suomalaisen Kirjallisuuden Seura. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016.
  7. ^ Asplund, Anneli; Sirkka-Liisa Mettom (tháng 10 năm 2000). “Kalevala: the Finnish national epic”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ “Turun Wiikko-Sanomat 1820 archive.”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ “The folklore activities of the Finnish Literature Society”. Bản gốc lưu trữngày 17 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)

Tài liệu

Tư liệu

Categories: ❀ VĂN SỬ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Karl Marx, tuổi thơ vất vả, tuổi trẻ tài ba, mối tình lãng mạn


 – Cách đây đúng hai trăm năm, ngày 5/5/1818, cậu bé Karl Marx được sinh ra trong một gia đình tại thành phố Trier cổ kính có bề dày gần hai ngàn năm lịch sử.

Karl Marx
Karl Marx

Sinh ra trong một gia đình bình dân, gốc Do Thái, thời niên thiếu của Marx trải qua không mấy bằng phẳng nhưng cũng không kém phần thi vị do bối cảnh chính trị phức tạp ở Phổ thời đó. Người cha là Heinrich Marx đã phải cải đạo sang đạo Tin Lành thuộc hệ phái Luther nhằm tránh sự định kiến của xã hội Phổ đối với người Do Thái.

Dù hoàn cảnh gia đình khó khăn vì bố mẹ đông con, cậu bé Karl Marx cùng với các anh chị em đã phải dành nhiều thời gian giúp đỡ gia đình mưu sinh kiếm sống. Tuy vậy, ngay từ thời niên thiếu, cậu bé Marx đã kế thừa tinh thần hiếu học của người cha. Khi Karl Marx lên 12 tuổi, trở thành học sinh của trường trung học Trier, là một học sinh giỏi, cậu có sở trường ở môn toán học và những môn học có tính chất độc lập sáng tạo.

Tốt nghiệp Trung học Trier năm 1835, Mác vào Đại học Bonn theo học luật. Tại đây, chàng thanh niên đầy nhiệt huyết tham gia nhóm Quán uống rượu Trier, vì thế việc học tập cũng bị ảnh hưởng.

Năm 1837, chàng trai trẻ Karl Marx chuyển sang Đại học Friedrich Wilhelm ở Berlin và ở đây, chủ yếu quan tâm đến triết học, tham gia nhóm Hegel trẻ, những người thần phục triết gia danh tiếng G. W. F. Hegel. Tình cờ, một trong những giáo sư của Marx lại là Nam tước Westphalen, cha của Jenny von Westphalen, vợ của Marx sau này khi đó chưa hề biết mối tình của chàng với con gái ông.

Chính sự cảm tình của vị giáo sư khả kính đã giúp Marx không chỉ vượt qua những năm tháng học tập gian khổ mà quan trọng hơn là vượt qua những định kiến “không môn đăng hộ đối” trong thiên tình sử của Karl Marx. Năm 1839, vùi đầu vào nghiên cứu những vấn đề của lịch sử triết học cổ đại, hai năm sau khi mới 23 tuổi, Karl Marx nhận bằng Tiến sĩ triết học với đề tài Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit (Démocrite) và triết học tự nhiên của Êpiquya (Épicure) tại Đại học Jena.

Vừa tỏ lòng ngưỡng mộ, vừa “tranh thủ tình cảm”, Karl Marx đề tặng bố vợ tương lai luận án tiến sĩ của mình. Năm sau, Karl Marx gặp Ph. Ăng ghen, người sau này vừa là bạn thân, vừa có sự giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần để Marx vượt qua bao sóng gió trong sự nghiệp của mình.

Chuyện tình lãng mạn

cau chuyen tinh lang man giua Karl Marx và vợ
Karl Marx và vợ

Khi còn là cậu bé 12 tuổi ở trường trung học Trier, Marx gặp Jenny khi đó đã là một thiếu nữ 16 tuổi xinh đẹp và kiều diễm, sinh ra trong một gia đình quý phái. Cậu bé Marx đã xiêu lòng tiểu thư từ những lần gặp đầu tiên, ví Jenny là “Nữ hoàng của các vũ hội”. Trong một bức thư gửi cho cha, Marx đã phải thốt lên: “Nghệ thuật cũng không sao đẹp bằng Jenny”.

Sự cách nhau về tuổi tác không ngăn trở họ. Jenny cũng có không ít các bạn trai thuộc dòng dõi quý phái mến mộ, nhưng rồi nàng từ chối tất cả để đến với cậu sinh viên nghèo Karl Marx. Khi phải xa Trier để vào Đại học Bonn, mang theo bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ về người bạn gái thân yêu của mình, Marx viết cho cha: “Khi con rời nhà ra đi, trước mắt con mở ra một thế giới mới, thế giới của tình yêu – một tình yêu say đắm…”.

Năm sau về nghỉ hè, Marx và Jenny đã bí mật hứa hôn với nhau. Tuy vậy, con đường dẫn tới hạnh phúc của họ không suôn sẻ. Thiên kiến của dòng họ Von Westphalen và nhất là của xã hội thượng lưu vây quanh Jenny, không dễ dàng chấp nhận một cô gái quý phái bậc nhất có thể trao cuộc đời cho một chàng sinh viên nghèo, lại mang tư tưởng tự do.

Vượt qua chặng đường nhiều năm trời đấu tranh gian khổ với những thiên kiến tàn nhẫn đó, cuối cùng ngày 19/6/1843, một lễ cưới giản dị khác với tập tục đã được tổ chức, gắn cuộc đời hai con người tuyệt diệu với nhau. Thật là lãng mạn, khi đó, Marx 25 tuổi, còn Jenny 29 tuổi.

Là người có khát vọng tự do, chàng thanh niên Karl Marx tham gia vào nhiều hoạt động chống lại những bất công của xã hội Phổ lúc đó, quyết định dời khỏi nước Đức. Với tình yêu tha thiết, không chút ngại ngùng về cuộc sống có phần phiêu lưu sắp tới, Jenny Mác đã dũng cảm cùng chồng sang Pháp và Bỉ, mở đầu cuộc đời lưu vong đầy sóng gió.

Khi cuộc cách mạng 1848 bùng nổ ở châu Âu, không chỉ Marx bị bắt mà cảnh sát Bỉ đã bỏ tù luôn cả Jenny. Ra tù, trở về Paris, bị chính phủ Pháp can thiệp lần thứ hai, họ phải dời sang London, nước Anh, tha phương cho tới cuối đời luôn trong cảnh đói nghèo.

Cuộc sống khốn khó đã cướp đi ba trong số bảy người con của Marx. “Không có Jenny thì Mác không bao giờ được như thế”, Eleanor Marx Aveling, người con gái út của Marx đã viết về bố mẹ mình như vậy. Tình yêu của Marx và Jenny sau khi kết hôn còn mãnh liệt hơn những năm tháng còn trẻ của họ như một bức thư của Marx gửi cho vợ.

Em yêu quí của anh!

Anh lại được viết thư cho em, bởi vì anh đang cô đơn và bởi vì anh cảm thấy khổ sở khi luôn luôn chỉ được trò chuyện cùng em trong tâm tưởng, còn em lại không biết gì về điều đó, lại không nghe thấy anh và không thể trả lời anh. Em hiện lên trước mắt anh thật là sống động, anh bế em trên tay, hôn em từ đầu đến chân, anh quỳ dưới chân em mà thì thầm: “Anh yêu em !”

Ðương nhiên trong thế gian này có nhiều phụ nữ và có một số người rất đẹp. Nhưng làm sao anh có thể tìm được một gương mặt nữa mà mỗi đường nét, thậm chí cả mỗi nếp nhăn trên đó đều gợi được trong anh những kỷ niệm mãnh liệt và đẹp đẽ nhất của đời anh? Tạm biệt em nhé, em yêu quí của anh, một ngàn lần, một vạn lần hôn em và các con.

Karl của em.


Nguyễn Quang Hưng
 (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đã đến lúc cho sự lên ngôi của văn hóa và tri thức


Văn hóa là hoạt động của tư tưởng, và sự thụ nhận cái đẹp và tình cảm con người. Nó không liên quan gì đến việc nắm bắt những mảnh thông tin rời rạc. Một người chỉ đơn thuần có nhiều thông tin là kẻ lắm chuyện vô dụng nhất trên đất của Thượng Đế. Điều mà chúng ta nên hướng đến là tạo ra những người vừa có văn hóa, vừa có tri thức chuyên môn trong chiều hướng đặc biệt nào đó. Tri thức chuyên môn của họ sẽ mang lại cho họ nền tảng để xuất phát, và văn hóa của họ sẽ dẫn dắt họ vào sâu thẳm như triết học và thăng hoa như nghệ thuật” – Trích sách Những mục tiêu của giáo dục và các tiểu luận khác – Alfred North Whitehead (Hoàng Phú Phương, Tiết Hùng Thái, Hà Dương Tường dịch).

Đã từ lâu ở Việt Nam, hệ thống giáo dục và truyền thông xã hội không hề hướng tới việc tạo ra những người có văn hóa và cũng không hề tạo được những người có tri thức chuyên môn. Lối nói “thừa thầy thiếu thợ” là một biện minh xảo trá, bởi thực trạng ở Việt Nam đó là vừa thiếu thầy vừa thiếu thợ.

Thống trị mọi lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay chỉ có những kẻ gặp thời. Chợt nhớ tới lời than của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút : “Kẻ gặp thời thì không có chí, mà kẻ có chí thì chẳng gặp thời”. Cái chí ở đây không nên hiểu hạn hẹp là cái chí của kẻ theo đuổi thành đạt. Chí ở đây là chí muốn tạo một cuộc thay đổi để đưa cộng đồng hướng tới lối sống đẹp hơn, sâu sắc hơn. Đó là cái chí của sự hướng thượng mà chỉ những người có tri thức và có văn hóa mới hiểu được và mới dám dấn thân.

Nhiều cuộc cải cách giáo dục đã diễn ra, nhiều cuộc thanh trừng chống tham nhũng được phát động, nhiều cuộc biểu tình được tổ chức, nhiều xu hướng kinh tế mới được đề xướng… Tất cả chỉ là phần ngọn của vấn đề. Chừng nào người ta chưa biết trân trọng văn hóa và tri thức, chừng ấy nước Việt Nam còn lụn bại. Nhìn trong lịch sử Việt Nam, không ít thời những thế lực thiếu văn hóa và tri thức giữ được địa vị cao và hậu quả là một sự tàn phá, suy đồi kéo dài. Không chỉ ở dưới thời Xã hội chủ nghĩa, mà còn cả cuối thời Lê-Trịnh, cái nạn đám đông tàn phá, sĩ phu dùng lời lẽ thao túng các thế lực, kẻ làm quan cậy quyền cậy thế tham nhũng và cướp bóc… đã rất phổ biến. Những người có tri thức, có văn hóa lui về ở ẩn, để giữ sự trong sạch của mình và cũng thể hiện cho sự bất lực trước thời cuộc.

Hiện trạng ngày nay là sự giao tranh giữa xu hướng trọng văn hóa, tri thức với xu hướng trọng tiền bạc, xu hướng trọng quyền lực đám đông. Đây cũng là tình trạng đã gặp phải ở thời 30-45 của thế kỷ 20. Hậu quả là xu hướng quyền lực đám đông đã thắng, sau đó là xu hướng trọng tiền bạc chiếm ưu thế sau những năm 90. Xu hướng trọng văn hóa, tri thức trượt dài trong thất bại. Cứ mỗi lần cơ hội đến, các trí thức có tâm và có tài nhen nhóm làm điều gì đó thay đổi cho đất nước thì lại bị hai xu hướng kia đè nén, thậm chí giả mạo. Giờ đây, xu hướng trọng tiền bạc và xu hướng trọng quyền lực đám đông cũng tạo ra đội ngũ học giả của riêng họ để làm dư luận dẫn dắt quần chúng. Những học giả này dẫm đạp lên văn hóa và tri thức đích thực, thay thế bằng các sản phẩm kém chất lượng hơn.

Bây giờ, những người có tri thức và văn hóa sẽ phải làm sao? Có nên quay mặt để giữ sự trong sạch cho riêng mình? Tôi vẫn luôn tin cơ hội không tự nhiên đến, cơ hội là do mình nỗ lực nhặt nhạnh, chắt chiu từng ngày. Ở thời Trung Cổ, khi đa phần dân chúng mù chữ, nhiều tri thức bị coi là quỷ dữ, vẫn có những người bất chấp nguy hiểm, liều mạng để gìn giữ, sao lưu, thậm chí thuyết giảng với các quý tộc để mong mỏi có một ngày thay đổi. Nhờ vậy, phương Tây có một kỷ nguyên Phục Hưng rực rỡ mà chúng ta đến nay vẫn được thừa hưởng một phần thành quả.

Vậy đấy, tôi không tin xu hướng đám đông và xu hướng trọng tiền bạc có thể tồn tại được lâu. Bởi chúng chỉ tàn phá, và khi chúng tàn phá đến cực điểm, sẽ là lúc cần xây dựng những nền tảng mới. Lúc ấy, tri thức và văn hóa sẽ trở thành vị Chúa cứu rỗi con người.

Hà Thủy Nguyên

Categories: ☺☺ Thời đàm, ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Âu phong Á vũ


Kình Văn : “Âu phong Á vũ” (歐風亞雨) tôi dịch là “European wind’n Asian rain” đúng không ?

Triều Dương : Nghĩa đen thì đúng, nhưng “phong” ở đây không chỉ có nghĩa là “gió”. Ông biết còn gì ?!

Kình Văn : Nó là một khái niệm văn chương, trong thơ Phan Sào Nam.

Triều Dương : Uh ! “Phong” ở đây là phong khó, khí phong vị. Mà mai tôi đưa ông sách, cũng là để ông nghiên cứu cho biết thế nào là bố cục trình bày văn bản của Mẽo.

Kình Văn : Thì ý cả câu là thời đại Tây Đông hòa hợp, cùng phát triển như mưa gió.

Triều Dương : Nói chung, tôi chưa nghĩ ra. Mje, diễn Hán sang Anh luôn có độ vênh. Thế nên bọn Mĩ sắp dịch hết Sử kí mà địa tính danh chúng nó vẫn phải để chữ Hán bên cạnh, không thì phiên Latin có cứt mà hiểu.

Kình Văn : Ban đầu tôi dịch là “Wind from Europe’n Rain from Asia”. “Âu phong Á vũ” tương tự “Thời đại Jazz” – “Jazz era”.

Triều Dương : Thôi để sau, Wiki thì chẳng quan trọng. Mai tôi vs ông sẽ xem, để quyết, sẽ giữ những gì từ bản gốc. Mốc thời gian, bản đồ, gia phả Iulio-Claudia chắc chắn phải giữ. Tụi mình được quyền thử những ý tưởng điên rồ nhất.

Kình Văn : Ờ hớ hơ, mảnh đất chưa ai khai phá mà.

Triều Dương : Để ông thấy cái nhà đó rây mơ rễ má ntn. He-he… Nhìn là thấy Augustus cháu của bà chị Iulia quá xa, mje, nhận nuôi thằng cháu tởm vđ. Nhưng mình cũng lấy Cải Tử làm bài học. Đừng có đánh đu vs tân tự do hay chính trị, nhất là khi nó chẳng cho mình được lợi lộc gì.

Kình Văn : Làm Don Quixote thì nhận trái đắng là phải.

Triều Dương : Giờ hắn im re, có dám ho he gì đâu. Hãy ở vế trên, ông à. Như Augustus, không cần vênh nhưng khối kẻ khiếp sợ, uy vũ khắp thiên hạ.

Kình Văn : Cứ sống đúng tinh thần La Mã. Speculum Virginum

Triều Dương : Ra là mang tiếng giáo huấn. Địt, thôi quá tuổi rồi. Gửi Thắng bảo ngồi quay tay cùng Sa-đì : Xem phim con heo Filasṭīn, xem cảnh Do Thái nện gái Filasṭīn. Sỉ nhục luôn… ka-ka !

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngu si + Nhiệt tình = Phá hoại


Triều Dương : Thằng này cần thêm vài thang độc dược, bệnh nặng vl.

Kình Văn : Thì đã biểu, nhiều người không tự chẩn bệnh của mình nổi. Tụi kỹ thuật toàn tư duy tập đếm nên ngoài tiền ra đéo có thú gì.

Triều Dương : Uh… Nói chung, A Sềnh chưa ra đời chưa thấm được cái thú khi nghe chửi và được chửi tha nhân. Tôi với ông giờ coi truyện đó nhẹ không. Ai chả phải có giai đoạn đưa đầu ra chịu báng, cũng như bị đánh, bị vùi dập.

Kình Văn : Sinh ở đâu thì bản tính ở đó, ông ạ. Dân thành phố cứt mấy đều có cái lịch thiệp, chớ như bà chủ trọ của tôi vẫn chỉ là dân quê, vô phòng đéo thèm gõ cửa, đã thế cứ thò đầu vào dòm như thể trong đó có vàng vậy. Nên thành thực là, với đám quê mùa, 1 chứ 10 cuộc Văn Cách cũng đéo ăn thua. À, cho ông coi cái tin vui vui : Cầu thủ Leicester tức giận khi Shakespeare bị sa thải.

Triều Dương : Ờ, Shakespeare. Thế nên Marius, Sulla, và cả Octavianus, ba lần tắm máu La Mã cũng đáng thôi, giết bớt cho khỏi nuôi lũ cặn bã. Nên ông thấy, thường những đại đô thị đến lúc quá tải thì phải diệt bớt đám bần nông. Tư duy chỉ hình thức, có lồn biết thưởng văn, thính nhạc, vịnh thi, đối ẩm, thực mĩ vị.

Kình Văn : Dm, thành phần Wikipedia toàn bọn lông rận. Nông dân ấy, già rồi nên đầu óc còn nặng tư duy thời chiến. Tôi và ông có cái may là sinh trưởng thời bình, thậm chí rất thanh bình, nên sau này dù đại thế chiến xảy ra và hòa bình tái lập, thì tâm khảm mình vẫn bằng an và bắt kịp thời đại hơn đám sinh thời chiến.

Triều Dương : Tư duy thời chiến là lũ sẽ bị lịch sử cuốn trôi. Ông không thấy đám thanh niên sinh trưởng thời chiến đều không tái hòa nhập được à ? Mà dm, mấy thằng lợn già này là thứ mà xã hội khinh bỉ. Augustus từng học tập tại Hellas, hắn hiểu vai trò của văn hóa, văn chương, nên dù đắc thắng phe quý nhân thì hắn vẫn dốc lòng bảo trợ văn chương. Không xã hội nào phát triển nổi nếu lãnh tụ là những thằng võ biền chỉ biết dùng nắm đấm.

Kình Văn : Cho nên mấy ông trùm như Drumpf Đại Đế chỉ hái rau bán cho lũ tham tiền thôi, còn gốc cứ để đấy tự xơi.

Triều Dương : Thực ra cũng đúng thôi. Cái đéo gì cũng đi truyền bá tùm lum thì bị qua mặt có ngày, mà không thì cũng thành cứt đái cho thiên hạ rỉa. Con Kim Như chưa ngộ được điều đó.

Kình Văn : Nó chưa giác ngộ nhưng ít ra là biết câm mồm. “Ngu si + Nhiệt tình = Phá hoại”, câu đó vẫn đúng.

Triều Dương : Sự bí ẩn rất cần thiết, nhất lại trong thời này, hở ra là ăn cắp : Đạo văn, đạo nhạc, đạo ý tưởng, đạo chích… Nên giờ các gia đình có nghề dù thô lậu đến mấy họ cũng càng phải cảnh giác, con dâu cũng phải qua thử thách vật vã mới được dạy nghề.

Kình Văn : Bảo tàng Lịch sử khá khôn. Đa số ảnh là nhỏ và mờ, mà những điều đăng trên mạng toàn trống đồng, đảng điếc sặc mùi tuyên huấn. Đơn giản là, muốn học cái hay thì phải tự bỏ tiền ra mục sở thị.

Triều Dương : Ngay cả Louvre toàn bản sao cả, đồ tốt để chỗ khác. Muốn có tri thức phải bỏ công của ra mua, mà phải biết tiêu tiền có tư duy, đặt đúng chỗ thời may mới thấy được, chứ tìm mấy trung tâm hoặc đại học quốc tế thì nó bán cho toàn cứt. Cơ bản xã hội Việt Nam vận hành đúng kiểu nhai lại và kinh doanh đa cấp, từ một gốc sau đó ra nhiều dị bản rồi cứ thế lừa bịp lẫn nhau, mua đi bán lại sự ngu và cả cộng đồng chìm nghỉm trong mớ rác.

Kình Văn : Thì cái đó tất yếu thôi, nhưng thế mới sàng lọc ra tinh hoa và tinh anh từ đám đông.

Triều Dương : Đối với đám ngu thì tôi nghĩ, cho chúng nó chết. Nhưng cái khắm là cả bọn lắm tiền cũng bỏ vốn cho mấy thứ đó. Cái khôn ngoan của ông Nguyễn Văn Khỏa là trích nguồn vừa phải, một phần vì có trích đám đông cũng đéo đủ trình tham khảo, phần nữa là có thế mình mới phải chịu thử thách để khảo cứu từ cái hạn chế. Gì cũng đòi dễ kiếm, miễn phí thì chỉ có cứt ấy. Còn Trần Quang Đức thì lừa một cách lưu manh trắng trợn, nên cuối cùng ông thấy, hắn vẫn chẳng có số má gì trong học giới, nhất là đám Hán Nôm, văn chương.

Categories: ❀❀ Bác vật chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đá mòn kia vẫn ghi


Triều Dương : À mà, quân chủ Á Đông hay có trò dựng trụ tạc bia ghi công trạng chiến tích đúng không ?

Kình Văn : Tựu trung là thạch bi đồng trụ (石碑銅柱), chất liệu bền.

Triều Dương : Uh… Vì lăng mộ Augustus có tấm bia đồng ghi công trạng, nó không còn, nhưng trong ngôi đền nào đấy ở Tiểu Á còn bản sao nguyên vẹn nên người ta vẫn lưu được. Nhiều khi không nhất thiết cứ ở một chỗ mới bảo lưu được vốn cổ. Các ông hậu duệ Việt Nam Cộng hòa đem cũng không ít phim sách qua hải ngoại nhưng chẳng bảo tồn xiển dương được đéo gì.

Kình Văn : Giờ đống đó để làm tiền và mua chính trị thôi.

Triều Dương : Phim phò nhờ mấy studio quét lại phục chế chiếu cho đám già hoài niệm thôi. Hải ngoại ngoài Trần Anh Hùng có ai sau ’75 làm được gì ra hồn đâu. Với lại, Sàigòn triệt tiêu cái tinh thần quốc gia quan trọng, chứ đống văn hóa phẩm cộng sản cũng đâu ngu và đốt phá bằng hết. Trong mấy kho quân đội quản lí có giời biết cổ vật di vật gì đang lưu trữ.

Kình Văn : Văn vật mất mát không nhiều đâu. Tinh hoa Việt Nam Cộng hòa thực ra cũng không cao lắm, nên mấy thứ không nên cho đám đông chắc chắn chỉ là dữ liệu quân sự – chính trị thôi, còn văn hóa phẩm thì thiếu gì nơi còn phiên bản. Mà với đám đông, văn hóa phẩm mới cần chớ.

Triều Dương : Uh… Trung thế kỉ với đám Việt Nam gần như vô giá trị, cái ngu là ở đấy. Mà chắc ông cũng biết ngành văn học dân gian đúng không, tôi đéo hiểu văn học dân gian Việt Nam thì nghiên cứu cái gì nữa ~

Kình Văn : Đại để là mấy truyện và thơ khuyết danh đó. Gồm cả tục ngữ, ca dao ngắn…

Triều Dương : À-há ! Thơ Lí-Trần thì vẫn nặng tính Đường Thi, tôi đéo thích thơ Đường.

Kình Văn : Riêng Nguyễn Trãi và Nguyễn Du có hẳn chuyên đề, độc lập như một ngành.

Triều Dương : Hmm.

Categories: ❀❀ Bác vật chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viếng cụ Lệ Thần


Nhờ những người bạn ở Hà Tĩnh, hôm 24-5, tôi tìm đến được nơi đặt tro cốt cụ Trần Trọng Kim ở tổ đình Vĩnh Nghiêm và hôm qua, 25-5, tôi gặp được bác Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3 của cụ Trần Trọng Kim ở Đan Phổ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Lịch sử không có chữ NẾU. Nhưng, đôi khi tôi vẫn cứ không cầm lòng được, suy nghĩ vẩn vơ, Việt Nam sẽ ra sao, nếu từ tháng 8-1945 vẫn là “chính phủ Trần Trọng Kim”… Trong năm 1945, người Việt có hai tuyên bố độc lập: Ngày 11-3, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam; Ngày 2-9, tại Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Độc lập không thật sự đến với Việt Nam vào tháng 3 cũng như vào tháng 9-1945. Chỉ có chính phủ Hồ Chí Minh, vào lúc ấy, mới chủ trương và có khả năng kháng chiến và thắng thế của Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến 1949 đã giúp những người cộng sản giành chiến thắng Điện Biên Phủ, dẫn tới Hiệp định Geneva 1954, chia cắt đất nước. Cuộc chiến tranh thống nhất Việt Nam kéo dài tới năm 1975; cuộc chiến tranh người Việt chống lại Khmer Đỏ (có bàn tay Bắc Kinh đâm sau lưng) và chống lại chính quân Trung Quốc xâm lược kéo dài tới 1989.

Chính phủ Trần Trọng Kim và những người theo chủ nghĩa quốc gia như ông chỉ có thể đòi độc lập thông qua đấu tranh chính trị và chủ yếu nhờ bàn cờ chính trị thay đổi sau Thế chiến thứ II (Ở Đông Dương, người Pháp trả độc lập cho Sihanouk 1953). Chính phủ Trần Trọng Kim, nếu lãnh đạo một Việt Nam sau độc lập, sẽ rất kỹ trị và chắc chắn sẽ kế thừa những di sản (vật thể hay phi vật thể) của người Pháp.

Từ lâu, tôi vẫn muốn thắp một nén nhang viếng tác giả của Nho Giáo, Việt Nam Sử Lược, Truyện Thúy Kiều… Theo hướng dẫn của bạn bè tôi đã về Đan Phổ và Thạch Kim, nơi có những người cháu gọi Cụ Lệ Thần bằng chú. Tháng Tư năm nay, khi cùng anh Lê Hải và Trương Duy Nhất về Đan Phổ, người làng đã dẫn ra khu mộ gia đình họ Trần và khẳng định, “Ông Thủ tướng bù nhìn nằm ở đây”, nhưng chúng tôi không tìm thấy tên Cụ. Về sau mới biết, tin nói cụ được an táng ở quê là không đúng.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi, cha là Trần Bá Huân (1838 – 1894) từng là một văn thân tham gia phong trào Cần Vương. Trần Trọng Kim mất cha năm 9 tuổi, mất mẹ năm 10 tuổi, anh ruột là Trần Bá Hoan nuôi được mấy năm, do quá túng quẫn phải đưa hai em, Trần Trọng Kim và Trần Thị Liên, cho nhà khác làm con nuôi. Hai không gian giáo dục sau đó đã đưa Kim và Liên đi theo hai con đường rất xa nhau. Người em theo phong trào cộng sản từ năm 1930, 1931, trở thành chủ tịch hội phụ nữ tỉnh Nghệ An (mất năm 1964). Người anh được cha nuôi cho ăn học, trở thành một học giả, một người có tinh thần quốc gia, dân tộc.

Năm 1953, sau khi chủ trì Hội nghị Hội đồng toàn quốc, tuyên bố Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp, cụ Trần Trọng Kim được Quốc trưởng Bảo Đại mời lên Đà Lạt. Sau mấy tuần nghỉ ngơi, không hề có biểu hiện đau ốm, cụ ra đi nhẹ nhàng sau một giấc ngủ trưa vào ngày 26 tháng Mười Âm lịch. Quốc trưởng Bảo Đại cho máy bay đưa thi hài Cụ ra an táng tại Hà Nội. Năm 1987, luật sư Phan Anh cho mời thân nhân của cụ từ Sài Gòn, từ Pháp về. Chúng tôi chưa rõ từ đề nghị của ai mà ngay trong dịp này Cụ được cải tảng, hỏa thiêu tại chỗ và tro cốt được mang vào gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm.

Cụ bà, Bùi Thị Tuất – em gái cụ Bùi Kỷ, sống ở Sài Gòn cho tới năm 1991. Con gái của hai người, bà Trần Diệu Chương, sống ở Pháp, hàng năm vẫn viết thư về cho bác Trần Xuân Điền nhưng không hiểu sao từ hai năm nay ông Điền không còn nhận được thư của bà Diệu Chương nữa (Bà cũng đã ở tuổi gần 90). Những bức thư của bà Diệu Chương không chỉ là để nối tình thân với họ hàng mà còn như muốn để lại những bằng chứng lịch sử về một nhân vật mà chắc chắn rồi đây sẽ được nhìn nhận lại.

Bốn ngôi mộ trong phần nghĩa trang gia đình, phía sau là phần mộ song thân : Cụ Trần Bá Huân (1838 – 1894), cụ Nguyễn Thị Nhị (và phần mộ người anh Trần Bá Hoan và chị dâu, Lê Thị Vy (1884 – 1956).
Cô Ánh, cháu dâu của bác Trần Xuân Điền, công chức văn hóa xã Đan Phổ.

Ông Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3, người đang lưu giữ nhiều tư liệu quý về cụ Trần Trọng Kim.

Bà Trần Diệu Chương, con gái cụ Trần Trọng Kim, và người chồng Pháp.

Hàng năm, bà Trần Diệu Chương đều có biên thư về Việt Nam.
Bút tích của bà Diệu Chương gửi ông Điền.

Lời điếu của đức Quốc trưởng Bảo Đại do ông Đổng lý Văn phòng tuyên đọc trong lễ tang cụ Trần Trọng Kim :

QUỐC-GIA VIỆT-NAM
ĐỨC QUỐC-TRƯỞNG
BẢO-ĐẠI

Quý vị,

Đức Hoàng-Đế vừa hay tin Nguyên Thủ-Tướng Trần Tiên-sinh tạ-thế nên khâm-mạng tôi tới đây đọc những lời Ngài ban để ai-điếu Cố Thủ-Tướng.


○    ○

Ông Nguyên Thủ-Tướng,

Được tin Ông tỵ trần, lòng tôi thương-cảm vô-hạn. Vẫn biết tuổi Ông đã gọi là thọ ; sự nghiệp văn-hóa, chánh-trị của Ông đã biểu-dương một thân-thế cao-quý. Song tôi không khỏi ngậm-ngùi nhớ rằng mới cách đây mấy hôm, tôi còn vui thấy Ông tinh-thần vẫn tráng-kiện, chí-khí còn hăm-hở, và tưởng rằng trong những ngày sắp tới là lúc Tổ-Quốc cần hết thảy những con dân tài-đức như Ông, Ông tuy tuổi cao sức yếu, vẫn có thể phục-vụ giang-sơn như suốt cả cuộc đời tận-tụy của Ông !

Lịch-sử sẽ ghi thanh-danh Ông, thanh-danh một nhà mô-phạm biệt-tài, một nhà văn-học lỗi-lạc, một nhà ../..

chí-sỹ ái-quốc. Và thân-thế trong-trắng của Ông đã làm gương cho kẻ đương-thời sẽ làm gương cho lớp hậu-thế.

Riêng đối với tôi, tôi không quên rằng trong những giai-đoạn khó-khăn của lịch-sử, lúc nào Ông cũng sẵn-sàng hăng-hái làm người cộng-sự đắc-lực của tôi : nào khi Ông nhận đảm-đương sứ-mạng nặng-nề điều-khiển con thuyền quốc-gia trong khi thế nước chông-chênh ; nào lúc tòng-vong ở nơi hải-ngoại khi tôi tranh-đấu để mang lại cho dân-tộc một hy-vọng, một tin-tưởng ở tương-lai ; nào buổi mới đây tuy tuổi đã ngoài 70 mà Ông còn hăng-hái đứng lên đảm-nhiệm trọng-trách chủ-tịch hội-nghị toàn-quốc trong cuộc tường-bày ý-nguyện của dân-tộc.

Ông thực đã xứng-đáng với dân-tộc. Ông quả đã xứng-đáng với lòng tín-cẩn của tôi.

Công-trạng ấy tôi không quên. Quốc-dân cũng không quên. Lịch-sử sẽ ghi công của người con ưu-tú của đất-nước.

Tin rằng hương-hồn ông sẽ được tiêu-diêu nơi cực-lạc.

Bà Nguyên Thủ-Tướng,

Tôi đề lời phân-ưu cùng Bà và Toàn-Gia. Tôi mong rằng lòng tiếc-thương của hết thảy quốc-dân đối với Cố Thủ-Tướng sẽ làm cho Bà nhẹ bớt một phần nào nỗi đau-đớn về dịp này và sự nghiệp lâu-dài của Cố Thủ-Tướng sẽ làm cho Bà được cái an-ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí-sỹ khuất-núi vẫn còn !

Chân dung cụ Trần Trọng Kim, chụp hồi 1953 (tư liệu của bác Trần Xuân Điền).
Cụ bà Bùi Thị Tuất, phu nhân của cụ Trần Trọng Kim.

Những dòng chữ ghi sau bức chân dung cụ Trần Trọng Kim chụp 1953.
Tro cốt học giả Trần Trọng Kim đang gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm, đặt trên giá chung như một người vô danh.

Trương Huy San

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Truyện ông Lot


Triều Dương : Chính phủ mới của Pháp có mức tín nhiệm thấp nhất trong 20 năm ~ “Kết quả thăm dò của Elabe cho thấy sự tương đồng với kết quả của hãng Harris Interactive vào ngày bầu cử, khi 59% cử tri bầu cho ông Macron nói rằng họ làm vậy chỉ vì muốn ngăn bà Le Pen đắc thắng“. Dm vl ~ 😄

Kình Văn : Hai thằng chó mặt hãm tài đéo chịu được.

Triều Dương : Nhìn chán vl ấy ! Bầu chỉ vì không muốn Le Pen lên, nhưng cũng đéo tin tưởng gì thằng ranh này. Ông thấy đấy, đám đông đéo bao giờ có thể tin được.

Kình Văn : Khi dân chúng thờ ơ với chính trị, thì đó là lúc xảy ra những cuộc thanh trừng đấy. Nói theo Thánh Kinh là đại hồng thủy ; như là : Suy thoái kinh tế, dịch bệnh, hoặc những vụ xả súng, hoặc bạo loạn, hoặc chiến tranh, hoặc thảm sát… Ông bố khiến Trấn Thành bật khóc bị tố dối trá trên truyền hình ~ Dm, giờ TV-shows lột mặt trái rồi đấy, toàn những thứ dối trá.

Triều Dương : Vốn dĩ nó là thứ kiếm tiền, tôi chẳng tin gameshows từ lâu lắm rồi.

Kình Văn : Đệk mệ ! Đéo tin lổi, nạnh như mùa đông.

Triều Dương : Chịu khó đê.

Kình Văn : Nầy hỡi con cái của Israel, đêm qua tôi đọc lại truyện ông Lot. Hóa ra biển Chết có tên gọi hiếm hơn là “Sea of Lot” ông ạ. Là tại vì, từ Yehudah sang Sodom phải băng qua đó, mà biển Chết có nồng độ Muối nhiều nhất vũ trụ, cho nên bà vợ ông Lot mới Chết và hóa tượng Muối. Vả, hai đứa gái con ông Lot sinh ra hai người là Ammon và Moab, tức là hai sắc tộc ở bờ Đông biển Chết.

Triều Dương : Sau này thì đó là tên hai bộ lạc.

Kình Văn : 9-xác ! Ammon và Moab giống như là đọc ngược nhau vậy.

Triều Dương : Sông Yarden, Pillar of Salt. Tại sao lại là cột muối, tôi nghĩ mãi tối qua.

Kình Văn : Sự thật thì không có thành Sodom nào cả, nó là khối núi đá muối, có lẽ chính nó đã tạo ra vị mặn khủng khiếp của biển Chết. Đá muối có ở Lào và Tây Nguyên mà, chứ ở hai nơi đó làm gì ra biển lấy muối được. Ông thấy sức suy tưởng đáng nể của đám tu sĩ Yehudah chưa ?

Movements of the African rift system, along with the pressure generated by the slow accumulation of earth and rock, pressed down on the layers of salt, creating Mount Sodom.

Triều Dương : Đám Yehudah nói làm gì !?

Kình Văn : Thế nên khi tách các lớp màng Thánh Kinh ra, tụi mình có sự tổng quan về bối cảnh Israel cổ đại.

Triều Dương : Cựu Ước là lịch sử của người Do Thái, cũng như Ilias và Odysseia ấy. Nhưng vốn dĩ Cựu Ước không chỉ riêng Do Thái, mà cả Cận Đông – Lưỡng Hà – Ai Cập đều được đề cập, Thiên Chúa tách nước ra làm Tigris và Euphrates. Dm, nói chung có nhiều lớp trầm tích lắm.

Kình Văn : Thậm chí có cả Ilias và Aeneis. Cũng là đám đông không tin tưởng, sỉ nhục người tiên báo và rồi hầu hết phải chết trong đại họa.

Triều Dương : Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng bừa bãi bỏ mje. Thấy nhân loại xây thành phố thì khiển chúng nó không thể nói cùng ngôn ngữ được nữa, tháp Babel ấy. Cái tên không thống nhất giữa các bộ lạc, rồi chia chúng ra từng vùng khác nhau. Cuối cùng là thành phố ngừng xây, còn mỗi tháp Babel sừng sững. Vốn dĩ cũng chẳng khác thời Ilias và Odysseia, khi con người sống cùng với các vị thần, các vị thần can thiệp như giáng thiên tai dịch họa để trừng phạt là thường. Vùng Kanaan nhìn chung như cái nồi lẩu thập cẩm, đủ các tín ngưỡng tông giáo ngôn ngữ sắc tộc.

Kình Văn : Nhân vật “Thiên Chúa” của Cựu Ước là “chép” Zeus của Hi Lạp chắc rồi, hoặc một Thiên Chúa của đám Phoinike.

Triều Dương : Dĩ nhiên. Hành xử bừa bãi thế thì chỉ tương ứng Zeus hoặc Iupiter thôi. Cứ phân tích dần Homeros, Hesiodos, Vergilius, Ovidius và Thánh Kinh sẽ thấy rất nhiều điểm tương đồng.

Kình Văn : El trong tiếng Phoinike là phiếm chỉ các vị thần.

Triều Dương : El sau này có thể là Allah và mấy cái danh xưng Amorite hay Akkad cũng như thế, nhìn chung là sau này đều quy lại một đấng tối cao. Tiếc là văn hóa Phoinike cũng còn tương đối mới mẻ với tôi, chỉ tạm biết là chúng nó chuyên đóng thuyền và vận chuyển lương thực binh sĩ cho Ba Tư đánh Hi Lạp. Nói chung, người La Mã cũng chỉ biết đến Phoinike qua Kartajen.

Kình Văn : Ancient Semitic religion

Sin (the Moon)
Shamash (the Sun)
Marduk (Jupiter)
Ishtar (Venus)
Ninurta (Saturn)
Nabu (Mercury)
Nergal (Mars)

Triều Dương : Đấy, biết ngay El và Allah có dính đến nhau.

Kình Văn : Marduk là thần được đám Babili sùng kính nhất. Elohim thì na ná như Abram.

Triều Dương : Ba Tư thì có Ahura Mazda, được đặt tên cho xe Mazda sau này.

Kình Văn : Đám này có thể gọi chung là Semit, nhưng tôi nghĩ nên gọi là Kana’an. Tức là gồm Ba Tư, Ả Rập, đám mọi quanh biển Chết, thậm chí có thể gồm Hi Lạp và Ai Cập. Cũng đéo hiểu sao cái xứ cằn cỗi bé tí đó lại đột ngột văn minh thế, hết Phoinike lại đến đám Yehudah.

Triều Dương : Arab ngày xưa cũng là Semite, nhưng Semite thường chỉ các sắc tộc nói ngôn ngữ Semite thì đúng hơn. Lưỡng Hà cũng phần nào đó ảnh hưởng, và thậm chí bị ảnh hưởng từ Kanaan. À mà dm, hôm qua đọc Genesis. Có nhắc đến Sidon là hậu duệ mấy đời của Noah, sau này Sidon là một trong năm thành bang của Phoinike.

Kình Văn : Thế ông ta có ghé Việt Nam không, là tổ phụ của vua Việt nào không ? 😝

Triều Dương : Có, thủy tổ của Toàn Sida. Thậm chí có thể nói rằng Aeneas đã đánh nhau với Châu Văn vương, vì dù sao hắn cũng là con rơi của Aphrodite, sau này lại được Ivlivs Caesar tôn làm tiên tổ. He-he… 😜

Kình Văn : Có lẽ sau khi Christ leo cột chơi dây, Magdalena đã lang chạ với vài thằng khác để sau này có hậu duệ qua Saigon chế tạo Magdalina Truồng, và giờ đàng hoàng làm thánh mẫu của băng Đại Đạo Trảm Phong. Ôi tự hào vỗn cả lài ~

Triều Dương : Địa cầu nhỏ bé lắm, trung tình sang tận An Nam cũng là lẽ thường tình. Maria đổ vỏ cho Ioseph, đéo biết sau này em Magdalina có đổ vỏ cho ai nữa không, túng thì dễ bạnh háng ra thôi. Bóc bánh trả tiền, giao dịch thành công, đề nghị quý em kiểm tra tài khoản để xác nhận. Mấy cái tích dong buồm ra đái, ý lộn, ra khơi lưu vong viễn xứ, rồi thành vua nơi nao, hương của gió chẳng kém Lý Dương Côn – Lý Long Tường – Lý Đăng Hiền. Nếu tên Brvtvs ất ơ nào đó còn được nhận làm quốc tổ Anglo, thì lý do đéo gì Lý Long Tường không thể thành tiên tổ của mấy nhánh họ Lý Chô Sơn.

Kình Văn : Thôi hỡi người anh em, hãy ngưng khóc cho kiếp tha hương khất thực của gái Magdalina Truồng !

Triều Dương : Yên chí là vụ cưỡng gian Lucretia sẽ sớm tái hiện thôi. “Đẻ con khôn mát l** rười rượi ; Đẻ con dại thảm hại cái l**” ~ Dm, Aeneas được cái l** thánh linh của Venus phọt ra thì khí chất ngời ngời, trong khi Magdalena tổ mẫu của Magdalina Truồng chắc cũng là một thứ ủy an phụ của Iesous. Hớ-hớ-hớ…

Kình Văn : Magdalena với Juda thì mới ra loài lăng loàn như Magdalina Truồng. 😄 Mà dm thằng khốn Nguyễn Văn Hiệu, tôi đang rất-rất muốn bắn chết nó, xong cạo đầu thuộc da làm giày nhằm sáng danh đức Chúa. Tôi đã không dưới hai lần cảnh báo nó về cơn hồng thủy sắp diễn ra, nhưng nó vẫn ra sức thể hiện bản thân như một con đĩ tân tự do ba xu. Thằng chó này đáng phải nhốt vào Sodom.

Triều Dương : Nguyễn Văn Hiệu dù sao cũng kiệt sức rồi. Giờ khoe hàng mãi, nhưng cũng chỉ nhai đi nhai lại như con bò cái. Sắp chết rồi vẫn tưởng mình tốt mã lắm.

Kình Văn : Bây giờ đem cả ông bà ông vải ra khoe “cổ phong” nhà mình cũng bằng “cổ phong” nhà nó. Thằng này đùa tinh tế quá !

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: