Viếng cụ Lệ Thần


Nhờ những người bạn ở Hà Tĩnh, hôm 24-5, tôi tìm đến được nơi đặt tro cốt cụ Trần Trọng Kim ở tổ đình Vĩnh Nghiêm và hôm qua, 25-5, tôi gặp được bác Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3 của cụ Trần Trọng Kim ở Đan Phổ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Lịch sử không có chữ NẾU. Nhưng, đôi khi tôi vẫn cứ không cầm lòng được, suy nghĩ vẩn vơ, Việt Nam sẽ ra sao, nếu từ tháng 8-1945 vẫn là “chính phủ Trần Trọng Kim”… Trong năm 1945, người Việt có hai tuyên bố độc lập: Ngày 11-3, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam; Ngày 2-9, tại Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Độc lập không thật sự đến với Việt Nam vào tháng 3 cũng như vào tháng 9-1945. Chỉ có chính phủ Hồ Chí Minh, vào lúc ấy, mới chủ trương và có khả năng kháng chiến và thắng thế của Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến 1949 đã giúp những người cộng sản giành chiến thắng Điện Biên Phủ, dẫn tới Hiệp định Geneva 1954, chia cắt đất nước. Cuộc chiến tranh thống nhất Việt Nam kéo dài tới năm 1975; cuộc chiến tranh người Việt chống lại Khmer Đỏ (có bàn tay Bắc Kinh đâm sau lưng) và chống lại chính quân Trung Quốc xâm lược kéo dài tới 1989.

Chính phủ Trần Trọng Kim và những người theo chủ nghĩa quốc gia như ông chỉ có thể đòi độc lập thông qua đấu tranh chính trị và chủ yếu nhờ bàn cờ chính trị thay đổi sau Thế chiến thứ II (Ở Đông Dương, người Pháp trả độc lập cho Sihanouk 1953). Chính phủ Trần Trọng Kim, nếu lãnh đạo một Việt Nam sau độc lập, sẽ rất kỹ trị và chắc chắn sẽ kế thừa những di sản (vật thể hay phi vật thể) của người Pháp.

Từ lâu, tôi vẫn muốn thắp một nén nhang viếng tác giả của Nho Giáo, Việt Nam Sử Lược, Truyện Thúy Kiều… Theo hướng dẫn của bạn bè tôi đã về Đan Phổ và Thạch Kim, nơi có những người cháu gọi Cụ Lệ Thần bằng chú. Tháng Tư năm nay, khi cùng anh Lê Hải và Trương Duy Nhất về Đan Phổ, người làng đã dẫn ra khu mộ gia đình họ Trần và khẳng định, “Ông Thủ tướng bù nhìn nằm ở đây”, nhưng chúng tôi không tìm thấy tên Cụ. Về sau mới biết, tin nói cụ được an táng ở quê là không đúng.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi, cha là Trần Bá Huân (1838 – 1894) từng là một văn thân tham gia phong trào Cần Vương. Trần Trọng Kim mất cha năm 9 tuổi, mất mẹ năm 10 tuổi, anh ruột là Trần Bá Hoan nuôi được mấy năm, do quá túng quẫn phải đưa hai em, Trần Trọng Kim và Trần Thị Liên, cho nhà khác làm con nuôi. Hai không gian giáo dục sau đó đã đưa Kim và Liên đi theo hai con đường rất xa nhau. Người em theo phong trào cộng sản từ năm 1930, 1931, trở thành chủ tịch hội phụ nữ tỉnh Nghệ An (mất năm 1964). Người anh được cha nuôi cho ăn học, trở thành một học giả, một người có tinh thần quốc gia, dân tộc.

Năm 1953, sau khi chủ trì Hội nghị Hội đồng toàn quốc, tuyên bố Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp, cụ Trần Trọng Kim được Quốc trưởng Bảo Đại mời lên Đà Lạt. Sau mấy tuần nghỉ ngơi, không hề có biểu hiện đau ốm, cụ ra đi nhẹ nhàng sau một giấc ngủ trưa vào ngày 26 tháng Mười Âm lịch. Quốc trưởng Bảo Đại cho máy bay đưa thi hài Cụ ra an táng tại Hà Nội. Năm 1987, luật sư Phan Anh cho mời thân nhân của cụ từ Sài Gòn, từ Pháp về. Chúng tôi chưa rõ từ đề nghị của ai mà ngay trong dịp này Cụ được cải tảng, hỏa thiêu tại chỗ và tro cốt được mang vào gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm.

Cụ bà, Bùi Thị Tuất – em gái cụ Bùi Kỷ, sống ở Sài Gòn cho tới năm 1991. Con gái của hai người, bà Trần Diệu Chương, sống ở Pháp, hàng năm vẫn viết thư về cho bác Trần Xuân Điền nhưng không hiểu sao từ hai năm nay ông Điền không còn nhận được thư của bà Diệu Chương nữa (Bà cũng đã ở tuổi gần 90). Những bức thư của bà Diệu Chương không chỉ là để nối tình thân với họ hàng mà còn như muốn để lại những bằng chứng lịch sử về một nhân vật mà chắc chắn rồi đây sẽ được nhìn nhận lại.

Bốn ngôi mộ trong phần nghĩa trang gia đình, phía sau là phần mộ song thân : Cụ Trần Bá Huân (1838 – 1894), cụ Nguyễn Thị Nhị (và phần mộ người anh Trần Bá Hoan và chị dâu, Lê Thị Vy (1884 – 1956).
Cô Ánh, cháu dâu của bác Trần Xuân Điền, công chức văn hóa xã Đan Phổ.

Ông Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3, người đang lưu giữ nhiều tư liệu quý về cụ Trần Trọng Kim.

Bà Trần Diệu Chương, con gái cụ Trần Trọng Kim, và người chồng Pháp.

Hàng năm, bà Trần Diệu Chương đều có biên thư về Việt Nam.
Bút tích của bà Diệu Chương gửi ông Điền.

Lời điếu của đức Quốc trưởng Bảo Đại do ông Đổng lý Văn phòng tuyên đọc trong lễ tang cụ Trần Trọng Kim :

QUỐC-GIA VIỆT-NAM
ĐỨC QUỐC-TRƯỞNG
BẢO-ĐẠI

Quý vị,

Đức Hoàng-Đế vừa hay tin Nguyên Thủ-Tướng Trần Tiên-sinh tạ-thế nên khâm-mạng tôi tới đây đọc những lời Ngài ban để ai-điếu Cố Thủ-Tướng.


○    ○

Ông Nguyên Thủ-Tướng,

Được tin Ông tỵ trần, lòng tôi thương-cảm vô-hạn. Vẫn biết tuổi Ông đã gọi là thọ ; sự nghiệp văn-hóa, chánh-trị của Ông đã biểu-dương một thân-thế cao-quý. Song tôi không khỏi ngậm-ngùi nhớ rằng mới cách đây mấy hôm, tôi còn vui thấy Ông tinh-thần vẫn tráng-kiện, chí-khí còn hăm-hở, và tưởng rằng trong những ngày sắp tới là lúc Tổ-Quốc cần hết thảy những con dân tài-đức như Ông, Ông tuy tuổi cao sức yếu, vẫn có thể phục-vụ giang-sơn như suốt cả cuộc đời tận-tụy của Ông !

Lịch-sử sẽ ghi thanh-danh Ông, thanh-danh một nhà mô-phạm biệt-tài, một nhà văn-học lỗi-lạc, một nhà ../..

chí-sỹ ái-quốc. Và thân-thế trong-trắng của Ông đã làm gương cho kẻ đương-thời sẽ làm gương cho lớp hậu-thế.

Riêng đối với tôi, tôi không quên rằng trong những giai-đoạn khó-khăn của lịch-sử, lúc nào Ông cũng sẵn-sàng hăng-hái làm người cộng-sự đắc-lực của tôi : nào khi Ông nhận đảm-đương sứ-mạng nặng-nề điều-khiển con thuyền quốc-gia trong khi thế nước chông-chênh ; nào lúc tòng-vong ở nơi hải-ngoại khi tôi tranh-đấu để mang lại cho dân-tộc một hy-vọng, một tin-tưởng ở tương-lai ; nào buổi mới đây tuy tuổi đã ngoài 70 mà Ông còn hăng-hái đứng lên đảm-nhiệm trọng-trách chủ-tịch hội-nghị toàn-quốc trong cuộc tường-bày ý-nguyện của dân-tộc.

Ông thực đã xứng-đáng với dân-tộc. Ông quả đã xứng-đáng với lòng tín-cẩn của tôi.

Công-trạng ấy tôi không quên. Quốc-dân cũng không quên. Lịch-sử sẽ ghi công của người con ưu-tú của đất-nước.

Tin rằng hương-hồn ông sẽ được tiêu-diêu nơi cực-lạc.

Bà Nguyên Thủ-Tướng,

Tôi đề lời phân-ưu cùng Bà và Toàn-Gia. Tôi mong rằng lòng tiếc-thương của hết thảy quốc-dân đối với Cố Thủ-Tướng sẽ làm cho Bà nhẹ bớt một phần nào nỗi đau-đớn về dịp này và sự nghiệp lâu-dài của Cố Thủ-Tướng sẽ làm cho Bà được cái an-ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí-sỹ khuất-núi vẫn còn !

Chân dung cụ Trần Trọng Kim, chụp hồi 1953 (tư liệu của bác Trần Xuân Điền).
Cụ bà Bùi Thị Tuất, phu nhân của cụ Trần Trọng Kim.

Những dòng chữ ghi sau bức chân dung cụ Trần Trọng Kim chụp 1953.
Tro cốt học giả Trần Trọng Kim đang gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm, đặt trên giá chung như một người vô danh.

Trương Huy San

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Truyện ông Lot


Triều Dương : Chính phủ mới của Pháp có mức tín nhiệm thấp nhất trong 20 năm ~ “Kết quả thăm dò của Elabe cho thấy sự tương đồng với kết quả của hãng Harris Interactive vào ngày bầu cử, khi 59% cử tri bầu cho ông Macron nói rằng họ làm vậy chỉ vì muốn ngăn bà Le Pen đắc thắng“. Dm vl ~ 😄

Kình Văn : Hai thằng chó mặt hãm tài đéo chịu được.

Triều Dương : Nhìn chán vl ấy ! Bầu chỉ vì không muốn Le Pen lên, nhưng cũng đéo tin tưởng gì thằng ranh này. Ông thấy đấy, đám đông đéo bao giờ có thể tin được.

Kình Văn : Khi dân chúng thờ ơ với chính trị, thì đó là lúc xảy ra những cuộc thanh trừng đấy. Nói theo Thánh Kinh là đại hồng thủy ; như là : Suy thoái kinh tế, dịch bệnh, hoặc những vụ xả súng, hoặc bạo loạn, hoặc chiến tranh, hoặc thảm sát… Ông bố khiến Trấn Thành bật khóc bị tố dối trá trên truyền hình ~ Dm, giờ TV-shows lột mặt trái rồi đấy, toàn những thứ dối trá.

Triều Dương : Vốn dĩ nó là thứ kiếm tiền, tôi chẳng tin gameshows từ lâu lắm rồi.

Kình Văn : Đệk mệ ! Đéo tin lổi, nạnh như mùa đông.

Triều Dương : Chịu khó đê.

Kình Văn : Nầy hỡi con cái của Israel, đêm qua tôi đọc lại truyện ông Lot. Hóa ra biển Chết có tên gọi hiếm hơn là “Sea of Lot” ông ạ. Là tại vì, từ Yehudah sang Sodom phải băng qua đó, mà biển Chết có nồng độ Muối nhiều nhất vũ trụ, cho nên bà vợ ông Lot mới Chết và hóa tượng Muối. Vả, hai đứa gái con ông Lot sinh ra hai người là Ammon và Moab, tức là hai sắc tộc ở bờ Đông biển Chết.

Triều Dương : Sau này thì đó là tên hai bộ lạc.

Kình Văn : 9-xác ! Ammon và Moab giống như là đọc ngược nhau vậy.

Triều Dương : Sông Yarden, Pillar of Salt. Tại sao lại là cột muối, tôi nghĩ mãi tối qua.

Kình Văn : Sự thật thì không có thành Sodom nào cả, nó là khối núi đá muối, có lẽ chính nó đã tạo ra vị mặn khủng khiếp của biển Chết. Đá muối có ở Lào và Tây Nguyên mà, chứ ở hai nơi đó làm gì ra biển lấy muối được. Ông thấy sức suy tưởng đáng nể của đám tu sĩ Yehudah chưa ?

Movements of the African rift system, along with the pressure generated by the slow accumulation of earth and rock, pressed down on the layers of salt, creating Mount Sodom.

Triều Dương : Đám Yehudah nói làm gì !?

Kình Văn : Thế nên khi tách các lớp màng Thánh Kinh ra, tụi mình có sự tổng quan về bối cảnh Israel cổ đại.

Triều Dương : Cựu Ước là lịch sử của người Do Thái, cũng như Ilias và Odysseia ấy. Nhưng vốn dĩ Cựu Ước không chỉ riêng Do Thái, mà cả Cận Đông – Lưỡng Hà – Ai Cập đều được đề cập, Thiên Chúa tách nước ra làm Tigris và Euphrates. Dm, nói chung có nhiều lớp trầm tích lắm.

Kình Văn : Thậm chí có cả Ilias và Aeneis. Cũng là đám đông không tin tưởng, sỉ nhục người tiên báo và rồi hầu hết phải chết trong đại họa.

Triều Dương : Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng bừa bãi bỏ mje. Thấy nhân loại xây thành phố thì khiển chúng nó không thể nói cùng ngôn ngữ được nữa, tháp Babel ấy. Cái tên không thống nhất giữa các bộ lạc, rồi chia chúng ra từng vùng khác nhau. Cuối cùng là thành phố ngừng xây, còn mỗi tháp Babel sừng sững. Vốn dĩ cũng chẳng khác thời Ilias và Odysseia, khi con người sống cùng với các vị thần, các vị thần can thiệp như giáng thiên tai dịch họa để trừng phạt là thường. Vùng Kanaan nhìn chung như cái nồi lẩu thập cẩm, đủ các tín ngưỡng tông giáo ngôn ngữ sắc tộc.

Kình Văn : Nhân vật “Thiên Chúa” của Cựu Ước là “chép” Zeus của Hi Lạp chắc rồi, hoặc một Thiên Chúa của đám Phoinike.

Triều Dương : Dĩ nhiên. Hành xử bừa bãi thế thì chỉ tương ứng Zeus hoặc Iupiter thôi. Cứ phân tích dần Homeros, Hesiodos, Vergilius, Ovidius và Thánh Kinh sẽ thấy rất nhiều điểm tương đồng.

Kình Văn : El trong tiếng Phoinike là phiếm chỉ các vị thần.

Triều Dương : El sau này có thể là Allah và mấy cái danh xưng Amorite hay Akkad cũng như thế, nhìn chung là sau này đều quy lại một đấng tối cao. Tiếc là văn hóa Phoinike cũng còn tương đối mới mẻ với tôi, chỉ tạm biết là chúng nó chuyên đóng thuyền và vận chuyển lương thực binh sĩ cho Ba Tư đánh Hi Lạp. Nói chung, người La Mã cũng chỉ biết đến Phoinike qua Kartajen.

Kình Văn : Ancient Semitic religion

Sin (the Moon)
Shamash (the Sun)
Marduk (Jupiter)
Ishtar (Venus)
Ninurta (Saturn)
Nabu (Mercury)
Nergal (Mars)

Triều Dương : Đấy, biết ngay El và Allah có dính đến nhau.

Kình Văn : Marduk là thần được đám Babili sùng kính nhất. Elohim thì na ná như Abram.

Triều Dương : Ba Tư thì có Ahura Mazda, được đặt tên cho xe Mazda sau này.

Kình Văn : Đám này có thể gọi chung là Semit, nhưng tôi nghĩ nên gọi là Kana’an. Tức là gồm Ba Tư, Ả Rập, đám mọi quanh biển Chết, thậm chí có thể gồm Hi Lạp và Ai Cập. Cũng đéo hiểu sao cái xứ cằn cỗi bé tí đó lại đột ngột văn minh thế, hết Phoinike lại đến đám Yehudah.

Triều Dương : Arab ngày xưa cũng là Semite, nhưng Semite thường chỉ các sắc tộc nói ngôn ngữ Semite thì đúng hơn. Lưỡng Hà cũng phần nào đó ảnh hưởng, và thậm chí bị ảnh hưởng từ Kanaan. À mà dm, hôm qua đọc Genesis. Có nhắc đến Sidon là hậu duệ mấy đời của Noah, sau này Sidon là một trong năm thành bang của Phoinike.

Kình Văn : Thế ông ta có ghé Việt Nam không, là tổ phụ của vua Việt nào không ? 😝

Triều Dương : Có, thủy tổ của Toàn Sida. Thậm chí có thể nói rằng Aeneas đã đánh nhau với Châu Văn vương, vì dù sao hắn cũng là con rơi của Aphrodite, sau này lại được Ivlivs Caesar tôn làm tiên tổ. He-he… 😜

Kình Văn : Có lẽ sau khi Christ leo cột chơi dây, Magdalena đã lang chạ với vài thằng khác để sau này có hậu duệ qua Saigon chế tạo Magdalina Truồng, và giờ đàng hoàng làm thánh mẫu của băng Đại Đạo Trảm Phong. Ôi tự hào vỗn cả lài ~

Triều Dương : Địa cầu nhỏ bé lắm, trung tình sang tận An Nam cũng là lẽ thường tình. Maria đổ vỏ cho Ioseph, đéo biết sau này em Magdalina có đổ vỏ cho ai nữa không, túng thì dễ bạnh háng ra thôi. Bóc bánh trả tiền, giao dịch thành công, đề nghị quý em kiểm tra tài khoản để xác nhận. Mấy cái tích dong buồm ra đái, ý lộn, ra khơi lưu vong viễn xứ, rồi thành vua nơi nao, hương của gió chẳng kém Lý Dương Côn – Lý Long Tường – Lý Đăng Hiền. Nếu tên Brvtvs ất ơ nào đó còn được nhận làm quốc tổ Anglo, thì lý do đéo gì Lý Long Tường không thể thành tiên tổ của mấy nhánh họ Lý Chô Sơn.

Kình Văn : Thôi hỡi người anh em, hãy ngưng khóc cho kiếp tha hương khất thực của gái Magdalina Truồng !

Triều Dương : Yên chí là vụ cưỡng gian Lucretia sẽ sớm tái hiện thôi. “Đẻ con khôn mát l** rười rượi ; Đẻ con dại thảm hại cái l**” ~ Dm, Aeneas được cái l** thánh linh của Venus phọt ra thì khí chất ngời ngời, trong khi Magdalena tổ mẫu của Magdalina Truồng chắc cũng là một thứ ủy an phụ của Iesous. Hớ-hớ-hớ…

Kình Văn : Magdalena với Juda thì mới ra loài lăng loàn như Magdalina Truồng. 😄 Mà dm thằng khốn Nguyễn Văn Hiệu, tôi đang rất-rất muốn bắn chết nó, xong cạo đầu thuộc da làm giày nhằm sáng danh đức Chúa. Tôi đã không dưới hai lần cảnh báo nó về cơn hồng thủy sắp diễn ra, nhưng nó vẫn ra sức thể hiện bản thân như một con đĩ tân tự do ba xu. Thằng chó này đáng phải nhốt vào Sodom.

Triều Dương : Nguyễn Văn Hiệu dù sao cũng kiệt sức rồi. Giờ khoe hàng mãi, nhưng cũng chỉ nhai đi nhai lại như con bò cái. Sắp chết rồi vẫn tưởng mình tốt mã lắm.

Kình Văn : Bây giờ đem cả ông bà ông vải ra khoe “cổ phong” nhà mình cũng bằng “cổ phong” nhà nó. Thằng này đùa tinh tế quá !

Categories: ❀❀ Ngữ ngôn chí | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hai gã cùng bàn, không kể những thằng ngu


Nguyễn Phúc Anh : Vấn đề nghiên cứu sử học hiện nay em thấy ở Việt Nam là mọi người vẫn bị kẹt mãi trong câu chuyện chân/ngụy, thật/giả. Em nghĩ sử học nên đặt những câu hỏi khác sớm.

Trần Trọng Dương : Vẫn phải làm những việc đó, và làm song song! không chắc về sử liệu học là chết đấy! Nhân học cũng có cách làm sử liệu học riêng, điều đó em quá biết! Chứ cứ hồn nhiên mà phỏng vấn/ điều tra/ tham dự sâu, rồi tin tuyệt đối vào đó thì toi ah? Có nhiều ngành khoa học, và mỗi ngành khoa học có chức năng riêng, giải quyết những câu hỏi riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng. Cho nên, nếu nghiên cứu về thời Lê Thánh Tông mà cứ tin là Hồng Đức QATT là hàng ngon tuốt thì chỉ có chết! Dù là văn học, hay tư tưởng, hay sử học, văn hóa học,…mà không biết sử liệu học hay rộng hơn tư liệu học thì sớm muộn cũng chết thôi! Giám định xong mới đặt những câu hỏi khác! Còn không giám định được thì đặt biển báo (mìn chưa gỡ) đừng có đụng vào! Không biết đó là mìn mà đem vào khò là toi!

Nguyễn Phúc Anh : Không anh, em không bảo nó không cần thiết. Quan trọng trong thực hành nghiên cứu lịch sử là giải thích tiến trình hình thành quan điểm, “sự thực lịch sử” đó chứ không phải chỉ ra nó chân/hay nguỵ. Nếu chúng ta thừa nhận không có sự thật lịch sử thì tại sao ta phải cố chứng minh rằng cái sự kiện này là đúng hay sai?

Trần Trọng Dương : Anh đang nói là sử liệu (văn bản), chứ không phải là sự kiện Hàn Thuyên làm văn. Cái ngưỡng để tránh “tuyệt đối hóa” sử thực, và phủ định hoàn toàn khả năng nhận thức lịch sử là vô cùng phức tạp! Ví dụ, vụ bia Đường Lâm mà anh và Phạm Lê Huy đến nay vẫn chưa giải quyết xong, chưa nhất trí được! Anh cũng cho là “không có LS tuyệt đối toàn diện như nó đã từng xảy ra”, nhưng ta lại có mà là “có nhiều hiện vật lịch sử”, “sự kiện lịch sử”, “văn bản lịch sử” và “nhân vật lịch sử” và nhiều cách diễn giải lịch sử. Trước đây, anh có nghĩ đến việc bằng cách nào có thể phân biệt, một ông Hùng Vương và một ông Lý Thường Kiệt?

Nguyễn Phúc Anh : Về trường hợp Trần Văn Quyến hỏi, có lẽ nếu là em, em sẽ tìm hiểu và đưa ra lý giải CỦA EM về câu chuyện Nguyễn Thuyên, từ một vài dòng được chép trong chính sử được diễn dịch theo hướng quốc gia chủ nghĩa thế nào ở thời kỳ hiện đại. Cũng có thể nghiên cứu về văn hoá đặt tên họ, ban họ tộc thời đó. Cũng có thể nghiên cứu về ý thức di sản và sự hình thành lịch sử dưới thời thực dân. Đồng thời cũng có thể nghiên cứu về mẫu hình trí thức Hoa Hạ và việc tạo dựng mô hình trí thức Việt Nam thời cổ. Và cũng có thể nghiên cứu về ma thuật, lịch sử ma thuật, lịch sử tự nhiên thời đó. Có hàng ngàn cách đặt câu hỏi, bao giờ những câu chuyện chân/ngụy kiểu thế kỷ 19 này mới chấm dứt? Mình tiếp nhận sử liệu theo cách nào thôi anh, đúng là mọi thứ đều có thể dùng làm sử liệu. Kể cả truyền thuyết. Nhưng vấn đề là đặt câu hỏi gì và dùng nó để trả lời câu hỏi như thế nào thôi anh.

Trần Trọng Dương : Vì ta chưa làm hết việc giám định văn bản của thế kỷ XIX nên giờ vẫn phải làm! Không thể dùng đối tượng của ngành này để phủ định ngành khác được đâu. Giống như trước đây có nhiều người cười khẩy ông Dương với ông Nguyễn Tuấn Cường chỉ biết ngồi đếm chữ Nôm, thống kê ngôn ngữ mà không biết làm gì ấy văn vẻ hơn, nhiều người đọc hơn! Không thể dùng quan điểm của ngành ngôn ngữ học, văn học, văn hóa học để chê ngành văn tự học, hay văn bản học được, (việc này anh đã nghe nhiều rồi). Ví dụ ở phần STT anh đã viết đấy, bây giờ mà còn có ai đem Binh Thư Yếu Lược ra tán về ông Trần Quốc Tuấn, hay dùng Nam Quốc Sơn Hà mà bốc phét về ông Lý Thường Kiệt, là đáng ăn chửi! Giám định văn bản học vẫn là một ngành khoa học độc lập, để cho các ngành khác kế thừa, chứ nó đâu có vô giá trị hoàn toàn! Các câu hỏi về tôn giáo (ví dụ tế cá sấu thời Trung đại) là thuộc về ngành khác!

Nguyễn Phúc Anh : Giám định văn bản học không nhằm mục đích để tìm ra văn bản đáng tin hơn. Bản thân nó không phải là ngành khoa học. Nó là một thao tác khoa học, thao tác xử lý tư liệu. Nhờ vào thao tác này một nhà nghiên cứu có thể thiết lập những lý giải của mình về lịch sử, đem đến cho người đọc một cảm giác về sự đáng tin, nghiêm túc và tận gốc rễ của nghiên cứu lịch sử đó. Và nhờ thế nghiên cứu lịch sử đó trở nên đáng tin hơn, theo tiêu chuẩn “đáng tin” của thời đại nhà khoa học đang sống. Theo em là vậy anh ạ.

Trần Trọng Dương : Đây nhé, 3 tập của Thiên Nam Dư Hạ đã được giám định là hàng fake. Nếu có thể viết gì về nó là viết từ góc độ lịch sử của sách face, lịch sử của sử liệu fake. CẤM DÙNG! Em hỏi Ruan Song xem. Kết luận của ông ấy đây : “Như vậy, ba tập II, III, IV của bộ Thiên Nam dư hạ tập rõ ràng là một sản phẩm giả mạo, được ngụy tạo nhằm một số mục đích mà theo chúng tôi có lẽ chủ yếu là để ‘trục lợi’. Chúng ta được biết rằng, đầu thế kỉ XX, Trường Viễn đông Bác cổ đã cho thuê sưu tầm, sao chép nhiều văn bản Hán Nôm Việt Nam. Để kiếm lợi, nhiều người được thuê đã làm giả nhiều tài liệu. Bộ Thiên Nam dư hạ tập thuộc số đó. Ngoài ra, cũng có thể do động cơ hiếu kỳ, do tư tưởng sùng bái cá nhân, ngụy tạo lịch sử ở một số cá nhân nào đó! Bản thân bộ sách này đã nhiều lần bị thất lạc ở thời Trung đại (thời Lê sơ, Lê Trung hưng, Lê mạt, Nguyễn) và gần như đã thất truyền. Với tình hình đó, văn bản Thiên Nam dư hạ tập vốn đã khá phức tạp. Việc làm giả trên càng làm phức tạp vấn đề. Với việc phát hiện ra lai lịch của 3 quyển trên, chúng ta đã có thể chắc chắn loại 3 tập này khỏi bộ Thiên Nam dư hạ tập để tiếp tục nghiên cứu các tập còn lại“.

Nguyễn Phúc Anh : Anh vẫn có thể dùng Thiên Nam dư hạ tập cho cực nhiều nghiên cứu chứ anh. Vẫn dùng được. Không chỉ lịch sử nguỵ tạo văn bản. Có thể nói về lịch sử hình thành di sản, sự khác biệt trong cách thức kẻ sĩ Việt Nam và trí thức Pháp nhìn về vấn đề di sản, từ khi nào khái niệm bảo tồn di sản được đưa vào Việt Nam, trí thức bản địa có ý thức về bảo tồn không? Việc họ lấy từ thơ Trung Quốc để làm thành thơ Lê Thánh Tông có căn cứ trên sự tương đồng thi học nào? Động cơ tiền bạc và vị lợi có phải là một yếu tố tạo nên lịch sử? Lịch sử của quá trình thực dân hoá ở Việt Nam? Lịch sử thư tịch Hán Nôm và quá trình sử liệu hoá thư tịch Hán Nôm (vốn chưa bao giờ mang tính sử liệu)…..bla bla. Vấn đề như em nói, là đặt câu hỏi như thế nào và trả lời nó ra sao.

► Cho phép em chen ngang : Như vậy ngành giám định văn bản giống như kiểu như giám định ADN hoặc Cacbon 14. Có tiếng nói tối hậu trong một số trường hợp.

Nguyễn Phúc Anh : ADN hoặc Carbon 14 chỉ là một cách đem thêm cảm giác đáng tin cho những dữ liệu được viện dẫn. Còn nó chả làm cho một đối tượng trở thành sự thực lịch sử được.

Trần Trọng Dương : Carbon thì cũng có sai số, nhưng nó bó tay với các hiện vật từ 1000 tuổi trở xuống! ADN thì tớ không biết, dù đã có đọc vài tài liệu! Nguyễn Phúc Anh, vậy câu hỏi đối với Thiên Nam dư hạ tập là vì sao người ta làm giả mạo nó, giả mạo như thế nào, bằng động cơ gì, thủ pháp gì, kĩ thuật gì?

► Giám định là quan trọng, nhưng đúng là bây giờ ko chỉ để trả lời đồ giả hay thật mà còn để biết nó ra đời khi nào, ở đâu, do ai và quan trọng nữa là với mục đích, động cơ gì. Nhiều đồ giả cũng quý ko kém đồ thật. Ví như Đạo đức kinh, Lão Tử chưa chắc là thật, nhưng vẫn giá trị, tùy góc nhìn của người sử dụng tư liệu, nhất là khi khoa học phát triển càng đa dạng, đa nguyên như hiện nay.

Nguyễn Phúc Anh : Anh ơi, có thể họ còn chả có ý thức là họ đang làm giả nó cơ. Có thể khi tạo ra văn bản, họ nghĩ họ đang làm vì một mục đích cao cả là tôn vinh, làm đẹp cho tiền nhân, làm giàu cho chính thống của hoàng triều ấy.

► Đúng, cái này ông Gurevic nói rất rõ trong Các phạm trù văn hóa trung cổ. Tứ thư, ngũ kinh chắc gì là đồ thật, nó có thể ko của 1 ông A,B cụ thể nhưng nó lại đại diện cho một hiện tượng, giai đoạn,… nào đó.

Trần Trọng Dương : Thế thì, văn bản học có giá trị của nó chứ, và nó là một ngành khoa học chứ! văn bản học, hay sử liệu học cần được một vị trí riêng, chứ không thể đòi nó phải trả lời câu hỏi của ngành văn học, hay văn hóa được! Nhưng nếu làm văn học, văn hóa hay sử học mà không có biết văn bản học là toi đấy! Còn họ có ý thức về việc làm giả nó hay không thì đấy là chuyện khác! Nhưng ít nhất ở đây Phúc Anh cũng phải thừa nhận rằng, Thiên Nam Dư Hạ, hay Binh Thư Yếu Lược là hàng fake! cấm dùng để nghiên cứu về Trần Quốc Tuấn và các ông thời Lê Sơ! Cho nên cái STT này anh mới viết “cái chết của sử liệu học”! Nó chết bởi vì không mấy ai thèm quan tâm đến nó! Anh em mình làm văn bản học về các nguồn tư liệu Hán Nôm, chứ văn bản học bằng chữ Quốc ngữ latin thôi, ở mình cũng chả mấy ai quan tâm, có phải hong bác Lại Nguyên Ân ?

Nguyễn Phúc Anh : Em đồng ý việc chỉ ra tính chất tạo tác của Thiên Nam Dư Hạ Tập và Binh Thư Yếu Lược để cấu trúc lý giải lịch sử của một lớp nghiên cứu mới. Nhà khoa học cần làm thế, để thiết lập nên diễn giải của mình về quá khứ. Cái em nghĩ cần tránh ở đây là cách đặt câu hỏi về chuyện thật/giả chỉ để mà chứng minh nó là thật/giả mà thôi. Nó không còn là những câu hỏi năng sản trong nghiên cứu nữa. Xử lý văn bản và diễn giải sử liệu là hai THAO TÁC quan trọng thì đúng, còn nâng nó lên thành khoa học thì em e là có vấn đề về mặt khoa học luận.

Trần Trọng Dương : Ruan Song và bác Trường Phong đã từng “khai tử” một số tư liệu bằng văn bản học rồi! Nói Tứ thư Ngũ kinh không chắc là đồ thật, nhưng hiện tại không có cứ liệu nào để phủ định sạch trơn nó!

► Nãy giờ đang đọc TNDHT mà anh Ruan Song đề cập. Trong bài viết anh Tùng chỉ ra sự lẫn lộn của tập II, III, IV trong 10 tập hiện còn của Viện Hán Nôm chứ hoàn toàn không phải toàn bộ TNDHT. Cần phân biệt rõ điều này. Văn bản đâu thế kỷ XX thì cần hết sức thận trọng.

Nguyễn Phúc Anh : Cũng cần cẩn thận khi tiếp cận chân nguỵ. Ở Trung Quốc đầu thế kỉ 20, có phái Nghi cổ, họ nghi tất cả cổ tịch là ngụy tạo. Sau đó tìm ra những thành tố văn bản để chứng minh rằng những văn bản, ví dụ Thư kinh, được tạo tác dưới thời Hán, bla bla. Sau này khi khai quật đc rất nhiều giản bạch, hoá ra là nhiều nội dung đã từng tồn tại thực sự, trước Hán rất lâu. Trong một nền văn hoá hoàn toàn không có ý thức bản quyền thì các thành tố văn bản của thế kỷ thứ 10 có thể nằm song song với những thành tố văn bản thế kỷ 19 là bình thường. Và cái này đặt câu hỏi về cách tiếp cận chân/nguỵ có còn là cách tiếp cận hợp lý với sử học hay không?

Trần Trọng Dương : Cho nên, với văn bản “văn tế cá sấu sông Lô”, khi ta chưa giám định (nó là văn bản của Hàn Thuyên, hay của ai khác, là đồ thật hay đồ đều) thì chửa có thể tán gì về nó cả! Các nhà sử học, nhân học 🤔 và văn học chớ có động vào! (Mìn chưa gỡ ngòi, chớ có khò!)

Nguyễn Phúc Anh : Vẫn là chuyện đặt câu hỏi như thế nào và trả lời câu hỏi ra sao thôi anh. Với văn bản Văn tế cá sấu sông Lô thì chả cần phải đặt nó là đồ thật hay đồ đểu (chân/nguỵ) của Hàn Thuyên hay không thì vẫn có hàng trăm cách để “động” vào nó một cách phù hợp anh ạ. Như em có viết ở trên.

Trần Trọng Dương : Bắt đầu vào mạch rồi đấy! Một sử liệu chỉ được thay thế khi có những phát hiện mới về khảo cổ học hay văn bản học! Thế theo em khảo cổ học có phải ngành khoa học không, hay đó chỉ là mấy ng làm thao tác đào, và thao tác giám định!? Cái này phải hỏi thêm Phạm Lê Huy, Đào Xuân Ngọc ? Hay Đôn Hoàng học có phải là một ngành khoa học?

Nguyễn Phúc Anh : Không anh. Em ko nói 1 sử liệu chỉ được thay thế khi có những phát hiện mới về khảo cổ học hay văn bản học. Em đang nói là một văn bản chỉ trở thành sử liệu trong một/vài trường hợp nghiên cứu cụ thể. Ngoài trường hợp đó thì nó chỉ là văn bản. Còn khảo cổ học là một ngành khoa học, đương nhiên.

Trần Trọng Dương : Anh cũng đã viết hẳn 1 bài riêng (theo hướng em nói, từ symbolism) về cá sấu! Nhưng đó là của ngành khoa học khác, không phải là của văn bản học! Mỗi ngành khoa học đều có vị trí riêng, để TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI KHÁC NHAU! Chứ không thể nhất quyết chỉ có một vài câu hỏi này mới là thú vị, còn các câu hỏi khác thì không cần để ý tới! Đã có người nói thẳng vào mặt anh là anh không có lý luận! OK? nhưng là lý luận của ngành nào? Của Nhân học thì OK, không phải của anh! Nhưng văn bản học thì có thể là không phải là anh không biết gì.

Nguyễn Phúc Anh : Đương nhiên là mọi người ai thích đặt câu hỏi kiểu gì thì đặt thôi. Nhưng em nghĩ thế này, nếu câu hỏi mình đặt ra tự thân nó là mâu thuẫn với nhận thức về lịch sử của mình (lịch sử là câu chuyện, ko có sự thực lịch sử mà chỉ có những lý giải về lịch sử) thì tại sao lại đặt mãi câu hỏi về chân/nguỵ đúng sai? Nếu anh nghĩ văn bản học là một ngành khoa học, thì em nghĩ cần phải trả lời được câu hỏi đối tượng nghiên cứu của nó là gì? Đối tượng này có chung những đặc điểm gì để có thể quy nhóm và phân biệt với những ngành khác? Phương pháp luận nghiên cứu của nó ra sao? Tri thức mà nó tìm ra hướng đến cung cấp nhận thức mang tính khái quát về lãnh vực gì? Thực hành nghiên cứu của nó tuân theo những quy chuẩn thao tác gì? Trong mọi câu hỏi, văn bản học, Kiều học, Nhị Độ Mai học, Lục Vân Tiên học, Hồng học, Văn Tâm Điêu Long học đều là những tên gọi mang tính phân loại đối tượng nghiên cứu, chỉ ra được một xu hướng yêu thích với đối tượng nghiên cứu, chứ bản thân chúng không phải là những ngành khoa học anh ạ.

Trần Trọng Dương : Mấy cái Kiều học thì bỏ qua đi. Cái thư chí học là bibliography. Thế niên đại học có phải là một khoa học được không nhỉ? Nếu không giám định được cái sách A hay hiện vật B có niên đại thế nào? thì các câu hỏi khác (ví dụ về con RỒNG Lê Văn Thịnh) có ý nghĩa gì?

Nguyễn Phúc Anh : Niên đại học không phải là một môn khoa học. Nó là thao tác giám định niên đại anh ạ. Nó không trả lời được câu hỏi cuối cùng đối tượng nghiên cứu của niên đại học là gì (là niên đại?), và “tri thức khái quát hóa về niên đại” từ việc nghiên cứu niên đại là gì. 

► Trước đây em làm văn bản học em cũng đồng ý là nó cũng chẳng phải là một môn khoa học, mà là một thao tác làm việc với văn bản. Nhưng nếu ko có thao tác này thì việc đặt câu hỏi về những thứ liên quan đến văn bản cũng khó mà thỏa đáng được, phải không anh?

Trần Trọng Dương : Thế thì y học có phải là khoa học không? hay chỉ là thao tác khám bệnh của mấy ông bác sĩ, để chẩn đoán ra bệnh, và tìm ra cách trị bệnh đó? Khảo cổ học có phải là khoa học không, khi nó chỉ đi đào và giám định niên đại, và chỉ để trả lời lớp văn hóa này, với mốc niên đại này thì nó có hiện vật này? Thôi chuột rút, đi ngủ đã!

Nguyễn Phúc Anh : Anh ơi, khảo cổ học không phải chỉ đào và giám định niên đại và mốc niên đại với hiện vật. Nói thế các bạn làm khảo cổ buồn chết. Còn y học là vừa là khoa học, vừa là thực hành chẩn trị. Anh dùng y học với từ tiếng Anh tương ứng là gì? Nguyễn Mạnh Sơn ạ, thao tác văn bản học là cần thiết. Nhưng như anh nói ở trên, mục đích của thao tác văn bản học không nên chỉ để chứng minh văn bản là chân/ngụy, đúng/sai nữa. 

Trần Trọng Dương : Yep. I see! Khảo cổ k phải chỉ có thế. Và Văn bản học còn có nhiều nhiệm vụ khác, và còn phải thay đổi cách tiếp cận. Nhg a k đồng ý với quan điểm cho rằng đó không phải là ngành khoa học!

► Em không biết có phải ý của thầy Nguyễn Phúc Anh không nhưng em có quan điểm tương đối giống với ý của thầy. Và nếu hỏi là lý thuyết đó là lý thuyết gì, thì đó thuộc về chuỗi lý luận Collective memory, hay New cultural Memory mà em có lần bàn luận. Hệ thống lý thuyết này có thể xem thêm ở đây. Bàn về ký ức xã hội. Dù cái gọi là “sự thật bị làm giả”, thì cái “ký ức” là có thật. Nhu cầu chính là tìm hiểu được, tại sao lại có nhu cầu đó, và mục đích gì. Giống như cá sấu là giả, vậy nhu cầu về Cá Sấu, Hàn Thuyên, Chữ Nôm kia từ đâu và khi nào.

Nguyễn Phúc Anh : Cẩn thận với collective memory vì nó phản ánh cái khác, không phải nghĩa mặt chữ và gắn với huyền thoại với lịch sử đâu.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngụy thuyết


Quốc Anh : Nè, lúc nãy tớ vừa lượn qua blog của Trương Thái Du, xuôi xuống mấy bài viết hồi năm 2014. Tớ mò được mấy lỗi sai về nguồn sử liệu của ổng, đang định comment vào Face ổng để phản biện, nhưng cuối cùng lại thôi. Vì vặn nhau về độ xác thực của các loại sử liệu từ thời Tiên Tần thì đúng như rút dao chém nước. 😦

Kình Văn : He-he, về lý thuyết là không còn sách vở Tiên Tần, cho nên dẫu có thấy thì chúng chỉ được coi là nguồn tham chiếu. Ví như những thẻ tre trong mộ Ngụy nói rằng vua Ngu bị vua Thuấn truất ấy, chỉ được coi là phiên bản khác của truyện Ngu Thuấn.

Trúc thư kỷ niên (竹書紀年) là một cuốn biên niên sử Trung Hoa cổ đại, được các nhà sử học đánh giá là nguồn tham khảo bổ sung, đối chiếu và đính chính cho một số sự kiện lịch sử Tiên Tần. Nguyên bản được chôn cùng Ngụy Tương vương (mất năm 296 TCN) ở Cấp huyện và được phát hiện vào năm 281 triều Tấn Vũ đế. Vì lý do này, cuốn biên niên sử tồn tại được sau vụ phần thư khanh nho của Tần Thủy hoàng. Cùng Sử Ký, trứ tác này là một trong những cổ thư quan trọng nhất về Trung Hoa hồi sơ khai. Qua chỉnh lý và nghiên cứu, các học giả thời cổ cho rằng đây là sách sử của nước Ngụy thời Chiến Quốc, lấy mốc từ huyền thoại Hoàng Đế đến năm 299 TCN.

Quốc Anh : Thế nên mới nói, tranh cãi dựa vào nguồn tài liệu có tính chất hư vô cao thì đều là đấm vào bị bông. Chả khác gì các nhà thần học ngày xưa cãi xem lạc đà có qua được lỗ kim hay không.

Kình Văn : Thật ra, vấn đề ngụy thuyết này người Âu châu trung đại và cả chính người Việt thời Nguyễn về trước đã có cách xử trí cho hợp lẽ tự nhiên rồi. Cho nên tớ mới nói, chế độ Việt Nam Cộng hòa đã kế thừa tinh hoa hai nền văn hóa Đông-Tây và cả gầy dựng được nền khoa học rất đỗi nghiêm túc.

Quốc Anh : Tớ còn nhớ hồi còn đi học, thầy tớ từng nói ngụy thuyết cũng là một phần tất yếu của lịch sử cũng như của mọi khoa học.

Kình Văn : Cậu hiểu gần sát điều tớ muốn nói rồi. Ngụy thuyết thường rất hấp dẫn, nhất là với người ngu. Tớ nói, sáng nay cậu lên phố sách bằng ngựa sắt sẽ thú hơn là nói “cái xe máy”. Đấy là ngụy thuyết – một dạng của văn chương. 😄

Quốc Anh : À hiểu rồi ! 🙂

Kình Văn : Cho nên, việc công nhận sách Tạ Chí Đại Trường như một hệ thống công trình nghiên cứu nghiêm túc của chính quyền cộng sản, tớ cho là tai hại. Vì chính điều đó đẻ ra đám lyhocdongphuong, Trương Thái Du sau này. Trong khi thời Cộng Hòa, sách của ông ấy chỉ được coi là văn phẩm.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Flute sonata


Tối qua vừa có giấc mơ không biết gọi là đẹp hay dữ, cậu ạ.

Tớ thấy Ly Hương đứng trên sân khấu Nhà Hát Lớn chơi flute, nàng mặc cái váy màu xanh da trời mà đuôi váy rất dài, dài lắm luôn, dưới hàng ghế khán giả chả có ai ngoài tớ xem, chỉ tớ với cô ấy.

Chơi được nửa bản thì bỗng nàng buông flute rồi cười điên dại. Sau rồi nàng nhún mình một cái bay vọt lên, cái đuôi váy phất phơ như đuôi con phượng hoàng ấy, tớ vội bật dậy chạy theo, bám được vào đuôi váy cô ấy. Cô ấy cứ thế lao vút lên trần nhà, tớ tưởng cả hai sẽ va vào đấy, nhưng trần tự nhiên mở toang ra một cái lỗ tròn. Ly Hương bay vụt lên bầu trời, bên ngoài lại là đêm hè với trăng sáng rực và trời đầy sao. Cứ bay vù vù như thế, tớ vẫn bám đuôi váy, một lát cô ấy lại đưa flute ra thổi tiếp, vẫn là flute sonata cung Mi Trưởng của Bach lúc nãy.

Tớ muốn nghe rõ hơn nên bám đuôi váy trèo dần lên, đến khi ôm được cái eo thon của nàng mới dừng, tiếng flute nghe rõ mồn một, gió mát rượi, thật vui không thể tả. Nhưng đột nhiên nàng lại dừng tiếng flute rồi quay lại nhìn tớ mỉm cười, bỗng nhiên tớ thấy tay mình lạnh toát, trơn tuột, không thể nào nắm chặt được eo Ly Hương nữa. Rồi tớ cứ tuột dần, tuột dần xuống dù cố bám thế nào chăng nữa, cuối cùng rơi vèo xuống, lúc đó tiếng flute lại vang lên, tớ rơi vòng vòng trên không trung trong tiếng flute rõ mồn một bên tai.

Lúc đó cả người tớ bắt đầu lạnh toát, cực kỳ lạnh… nhưng bên tai vẫn cứ văng vẳng tiếng flute của Ly Hương.

Choàng tỉnh dậy thì người vừa ướt đẫm mồ hôi, vừa lạnh toát, hóa ra vì tớ ngã từ trên giường xuống sàn nên mới thấy lạnh thế. 😄

Tiên sư giấc mơ ! 😑

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

Categories: ☺☺ Tạp thoại | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Vũ Sưởng


Trong năm Cảnh Hưng, hoàng thái tử bị phế, phải giam ở dinh viên nội thần Thiều quận công. Trúng thức Vũ Sưởng là chắt cụ thám hoa Vũ Thành, hậm hực đau đớn, bèn rủ họp bọn nghĩa sĩ mưu toan phản chính. Việc bại lộ, bị đem hành hình ở bến Đông. Những người thân thuộc và bạn bè đều phải nín hơi không dám đến thăm hỏi. Duy có giám sinh Nguyễn Liên người làng Bỉ Khê huyện Lương Tài đem rượu đến cùng ông Sưởng quyết biệt. Ông uống say, rồi làm bài thơ tặng Liên, có câu rằng : “Nhất thân tự nhậm cương thường trọng”. Nguyễn Liên lo việc tang chu tất.

Năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống, ông được truy tặng tước vương và đứa con nuôi tên Hiệu được phong quan, triều đình còn bàn lập đền để tinh biểu. Năm Kỷ Dậu đổi ngôi vua, Hiệu theo vua cũ sang Yên Kinh rồi mất ở đấy, có đứa tớ đem tin về.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Phạm Tùng Niên


Mình xin có chút thắc mắc thế này, sáng nay học môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam trên lớp, thầy giáo mình có nhắc tới việc Phạm Đình Hổ là nhà văn hóa lớn của nước ta thế kỷ XVIII, nhưng ông cũng có rất nhiều điều tiếng xấu đương thời, đặc biệt là khi làm quan nhà Nguyễn. Nhưng mình chỉ thấy các tài liệu nói Phạm Đình Hổ là nhà nho mẫu mực chứ không thấy thông tin về điều tiếng xấu gì của ông. Vậy mình hỏi xem điều này có thực hay không, và nếu là thực thì cho mình xin chút thông tin được chứ ?

Quốc Anh : Thầy bạn nói vừa đúng vừa không. Cơ mà trước nhất mình muốn hỏi, bạn nói rằng cụ Tùng Niên theo như bạn biết là nhà nho mẫu mực, thế thì tiêu chuẩn hoặc biểu hiện nào là mẫu mực của một nhà nho (ít nhất là theo bạn). Cũng nên trình bày cái đó ra để định hướng vấn đề. 😊

► Khiếp, sao bác lần nào cũng phải vặn vẹo hắc xì dầu thế ! 😂

Không phải mình cố ý làm khó bạn, cái này người ta nói là tư duy biện chứng, nó cần trong mọi vấn đề và liên quan tới cái bạn hỏi. Nếu chính bạn không hiểu và trình bày nổi điều mình phát ngôn thì người khác cũng không thể trả lời rõ cho bạn được, và có đáp thì e là bạn có thể cũng không hiểu.

► À thì chỉ nghĩ đơn giản là mẫu mực ở đây nghĩa là em thấy Phạm Đình Hổ không có tai tiếng gì (ít nhất như em biết), chăm chỉ học tập, miệt mài nghiên cứu, có hiếu với cha mẹ. Đây chỉ là nhận thức đơn giản có phần dốt của em, mong bác lượng thứ cho, em không có ý gì cả. 😂😂😂😂😂😂 Bác xá cho em nếu em trót nói ngu 😢😢😢😢

Quốc Anh : Ô hay, làm gì mà nghiêm trọng thế ? 😅 relax, relax 😄

Nay mình trả lời bạn Trần Văn Nghĩa.

Thầy giáo bạn có nhắc việc Phạm Đình Hổ, là nhà văn hóa lớn của An Nam thế kỷ XVIII, nhưng đương thời cũng có tiếng xấu, thậm chí nghiêm trọng, khác hẳn với hình ảnh ta thường được biết về cụ. Thế mình mới đáp là thầy bạn nói vừa đúng vừa không.

1. Đúng ở chỗ, con người sống ở trên đời không ai hoàn hảo, ai cũng có lúc tốt lúc xấu, tiếng tăm người ta để lại ở đời theo đó cũng có tiếng tốt tiếng xấu, nhà nho và cả bậc đại nho cũng không ngoại lệ. Đúng nữa là vì các tài liệu lịch sử có nhắc tới tiếng xấu của Phạm Đình Hổ thực.

2. Còn nói cũng có chỗ không đúng, là vì các tài liệu chưa bảo đảm được độ xác thực. Tiếng xấu của Phạm Đình Hổ được ghi lại ở hai tài liệu Quốc sử di biên (國史遺編) và Đại Nam thực lục (大南寔錄). Quốc sử di biên ghi được khá nhiều thông tin, nhưng “di biên” đúng như cái tên, vốn là thể loại nhằm sưu tầm các việc mang tính đồn đãi ; vì thế, chưa thể coi các điều trong đó là hoàn toàn đáng tin, chỉ có thể tạm coi là sự tham khảo. Đại Nam thực lục thì ghi được một việc có liên đới Phạm Đình Hổ ; nhưng xét ra, Thực lục thuộc thể loại chính sử và sẵn có uy tín của triều Nguyễn, điều trong đó đáng tin hơn hẳn và nhiều khả năng thực.

Cụ Phạm phải đường khoa hoạn khó khăn, đỗ không cao, từng thi trượt nhiều bận, nên khi ra làm quan nhà Nguyễn thường bị đồng liêu dè bỉu, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến cả tai vua. Việc ấy nằm trong Đại-nam thực-lục chi Thánh-tổ Nhơn hoàng-đế, đệ nhị kỷ, quyển 105.

◆ Quốc Tử giám Thự tế tửu [1] Phạm Đình Hổ, Tư nghiệp Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu làm việc không hiệp nhau. Vua nghe biết, dụ bộ Lễ rằng : “Thành Quân quán là nơi đầu cho phong hóa, mô phạm quan hệ đều ở đó cả. Nhà nước đặt ra tế tửu, tư nghiệp cốt là để dìu dắt sĩ tử mở rộng văn trị, thế mà bọn kia nhiều việc lủng củng, dạy dỗ thưa thớt, nhân tài ít được tiến ích, thực phụ lòng ta. Hạ lệnh chúng tâu thật minh bạch !“. Đến khi sớ dâng lên để luận tội, Hổ lại nói chêm rằng : “Học thức thô sơ, khoa mục không cao, vẫn bị bạn đồng nghiệp trêu chọc. Nay tuổi già mờ tối, ý nghĩa sách vở ngày một quên lẫn, sợ sức trái với lòng, chỉ thêm tội lỗi, xin từ việc Giám về hầu ở bộ“. Vua dụ rằng : “Phạm Đình Hổ xuất thân học trò, trẫm thấy văn học tài giỏi, cho nên cất nhắc vượt bậc. Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu đều là khoa bảng xuất thân, làm việc lâu ngày, giao cho chức trách lo việc giáo dục, thế mà không biết kính mến nhau, gắng gỏi cho xứng chức vụ, lại lấy ranh giới coi nhau đến nỗi chẳng để tâm vào chức vụ, tư cách làm thầy như thế thì học trò biết nhìn vào đâu ? Nay sức hỏi tâu đáp thì Hổ còn lấy việc bị đồng nghiệp trêu chọc mà tự thác, Thuân và Hựu thì đều nói hàm hồ, đều không phải cả. Đáng lẽ cần giao cho bộ nghiêm bàn, nhưng nghĩ là do mờ tối, hãy tạm trừng trị qua loa. Vả chăng lời Hổ cũng thành khẩn, y lại là người ngay thẳng, nếu cho làm việc quan thì khó thành hiệu. Vậy chuẩn cho thôi việc Giám, vẫn lui về nguyên hàm Hàn Lâm viện Thừa chỉ, giáng hai cấp, bọn Thuận và Hựu cũng giáng hai cấp“.

Trong Quốc sử di biên có chép rằng Phạm Đình Hổ là người ương bướng nên gây ra một số tai tiếng sau :

◆ Thự Tế tửu Phạm Đình Hổ xin từ chức, Hổ là người trực tính, giáo pháp nghiêm cẩn, học trò nếu trước đã bái sư người khác mà nay đến xin học đều không cho nhập môn. Bấy giờ đang ở Giám, có vị công tử ra xin học, ông rút guốc ném. Vị kia cãi lại : “Nếu đánh roi thì còn là hình phạt trong khi dạy học, nay thầy lấy guốc ném tôi là thể thống gì ?“. Liền lấy guốc của mình ném lại Hổ, rồi nói tiếp : “Thầy không phải bậc đại khoa, không đủ làm mực thước dạy người“. Hổ thẹn quá, dâng biểu lên xin về Bắc Thành dưỡng bệnh, vua ban cho 100 quan tiền.

◆ Khi Hổ ở Bắc Thành, gặp kỳ thi Hương, con ông ta làm văn hộ người khác, việc vỡ lở, bị giáo thụ Hoài Đức nọc ra đánh roi. Hổ giận mắng : “Ta hận nỗi không làm được đại quan thôi, chứ còn như đám giáo thụ kia thì môn đồ ta có khối“. Người đời cho là ông quá quắt.

◆ Có viên Cẩm Y vệ giở trò vòi tiền nhà Hổ không được, liền ra đường nói hỗn, bị Hổ đánh cho chảy máu. Viên Cẩm Y ngã lăn ra đất, Hổ liền lấy nồi đồng treo vào người vu cho tội ăn trộm giữa ban ngày, làm bản cáo trạng tố lên Hình tào Nghi. Có lệnh xuống, sai truyền Tri phủ Diễm xét án. Diễm đến xử, chỉ bắt tội Hổ khi quân, nói rằng : “Hoàng thượng nhiều lần hạ chiếu triệu ông, ông lấy cớ vì bị bệnh yếu để từ chối. Thế mà nay đang bệnh nặng, ông lại còn đánh ngã bất tỉnh được người khỏe mạnh, thế thì ai là kẻ khỏe đây ?“. Hổ giận và đuối lý, đập đầu xuống bàn. Diễm bật cười nói : “Dù ông có tháo khăn mà đập vỡ đầu cũng chả vu được cho ta cái tội bức tử, huống hồ giờ đầu ông vẫn còn quấn khăn thì đập vào bàn cũng phương hại được nỗi gì“. Rồi hạ lệnh bắt trói viên Cẩm Y cùng chứng cứ, lập án trạng xong, bảo với Hổ : “Ông có quan phẩm, lại được hoàng thượng trọng dụng, hình tào Bắc Thành không dám xét xử, cần chờ làm sớ tâu lên để định đoạt, sự thể phải như vậy“. Hổ sợ, cố xin giảng hòa [với viên Cẩm Y], nên được miễn thứ. Khi Hổ được phục chức, thường qua lại tự do ở công đường lục bộ [2], ngự sử đề tấu việc đó lên với vua. Vua tha cho, miễn nghị tội và nói : “Hiểu biết, rèn luyện rồi du chơi, nghỉ ngơi ; đấy vốn là bản sắc của kẻ thức giả” . Có viên nhậm tử nọ ở Bối Khê từng chê Hổ rằng : “Ông nổi tiếng là kẻ có văn học, được hoàng thượng trọng dụng, thế mà ngôn động lại sai trái. Bị trong triều ngoài nội đàm tiếu, chỉ riêng ông là không biết hối chăng ?“.

Trên đây là phần trả lời của mình, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người bỏ qua và góp ý !

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Chức vụ về nghi lễ triều đình cũng là chức vụ dạy học tại Quốc Tử giám ngày trước, coi như vị “hiệu trưởng” của trường này.

[2] Theo phép tắc của nhà Nguyễn, quan lại các cấp nếu không có phận sự thì không được phép đi lại tự tiện ở công đường các bộ.

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viên Giác tự


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Viên Giác tự vốn là một khu đất rộng lớn. Ban đầu, ở đất ấy chỉ có đại điện và thiền đường ở phía Đông và phía Tây. Quán Tập đô giám nằm ở thiền đường phía Tây đại điện, còn Lễ Táng đô giám ở thiền đường phía Đông đại điện, phần đất chính Bắc đại điện là nơi tụ họp của các nho sinh. Tuy nhiên, vua Thế Tổ đã hạ lệnh dựng một ngôi chùa lớn trên đất ấy và đặt là Viên Giác tự. Ngân Xuyên quân và Ngọc Sơn quân được phong chức đề điệu kiêm đại tư hiến và luôn đượm vẻ oai nghiêm của bậc lão tướng. Bởi thế, họ luôn có lính hầu và kị sĩ thổi kèn đi trước, thường người ta kéo đi xem rất đông. Khi chùa mới xây xong, thánh thượng cho mở tiệc mừng và ngài có đi dạo mấy vòng quanh chùa. Lúc ấy có sự lạ xảy ra, từ đỉnh trời trút xuống một cơn mưa tứ hoa và có xá lị rải rắc nhiều mảnh, thế nên thánh thượng đã nhiều lần ân thăng cho các quan trong triều.

Sau ngày đó, trung bộ được chuyển về khu đất của Giá Các khố, Lễ Táng đô giám thì đặt ở Tùng Hiện hành lang và thuộc Quy Hậu thự, còn Quán Tập đô giám nhập với nhạc viện của Phụng Thường tự và đổi thành Nhạc Học đô giám, ít lâu sau Nhạc Học đô giám lại đổi thành Chưởng Nhạc viện. Khi Hồng Nhân Sơn nhậm chức đề điệu thì khu trung bộ đã trở nên chật chội mà người thì đông, nên nó được chuyển đến vùng đất bây giờ và nới rộng hơn. Tòa nhà lớn cùng quy mô hùng tráng ấy là nơi lý tưởng nhất trong tất cả cơ quan hành chính của triều đình bấy giờ và cũng là nơi thực tập lễ nghi của bá quan, đồng thời còn làm nơi mở các khoa thi để tuyển lựa hiền tài.

圓覺寺是古大寺之基。初有大殿及東西禪堂而已。慣習都監寓大殿西禪堂。禮葬都監寓東禪堂。大殿之北。爲中部儒生所會。世祖皆命毀撤。更創大伽藍。名曰圓覺。以銀川君玉山君爲提調。兼大司憲。常於路上用憲官之儀。所由二人呵辟。又令騎士吹簫角前導。士女坌集聚觀。寺成設慶讚會。上屢臨幸焉。有天雨四花舍利分枚之異。屢加百官級。其後中部移於架閣庫之基。禮葬都監。寓松峴行廓。屬歸厚署。慣習都監合於奉常寺之樂學。而名曰樂學都監。未幾改爲掌樂院。洪仁山爲提調。以其地狹人衆。移今之地而大創之。宏堂傑搆。甲於諸廨。爲百官習儀之所。又爲科場取士之處矣。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Bùi Thế Vinh


Cụ ngoại bảy đời của tôi là Bùi Thế Vinh, đỗ tiến sĩ khoảng năm Diên Thành, quan hàm Tự Khanh. Khi nhà Mạc mất ngôi thì ông lui về quê, rồi cùng ông Đỗ Uông làng Đoàn Tùng, ông Nhữ Công Tông làng Nhữ Xá đều được vời ra làm quan nữa, nhưng riêng ông Bùi Thế Vinh lấy dao con rạch đầu gối cáo bệnh không chịu ra. Nhân lúc ấy có bà Thường Quốc phu nhân tự thắt cổ tuẫn tiết. Hai người đều được khen ngợi, nhân có câu ngạn “Con dao Đông Luân, dây thừng phu nhân”.

Loài chi mày Thượng Thông, Thượng Nhữ,
Những dơ tuồng tặc tử gian thần.
Nào dao lá trúc Đông Luân,
Nào thừng tiết nghĩa phu nhân kia là.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hang núi


Hồi chinh phạt miền Nam, mấy người lính đi xuyên rừng thì gặp một cái hang. Vào xem, ban đầu thấy tối đen, nhưng sau rạng dần. Có thể trông rõ được hết, một chốc thấy trong đó có cư dân, tiếng nói ríu rít không sao hiểu nổi. Bọn lính đói quá phải cướp lấy miếng ăn, những người kia tan chạy như chim, nhưng lát sau họ tụ lại rất đông. Bọn lính sợ phải ra, dùng những tên nhọn vừa đi vừa bắn lại. Về thuật cho mọi người, lại kéo đến xem thì chẳng thấy gì cả.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: