Ông Phạm Tùng Niên


Mình xin có chút thắc mắc thế này, sáng nay học môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam trên lớp, thầy giáo mình có nhắc tới việc Phạm Đình Hổ là nhà văn hóa lớn của nước ta thế kỷ XVIII, nhưng ông cũng có rất nhiều điều tiếng xấu đương thời, đặc biệt là khi làm quan nhà Nguyễn. Nhưng mình chỉ thấy các tài liệu nói Phạm Đình Hổ là nhà nho mẫu mực chứ không thấy thông tin về điều tiếng xấu gì của ông. Vậy mình hỏi xem điều này có thực hay không, và nếu là thực thì cho mình xin chút thông tin được chứ ?

Quốc Anh : Thầy bạn nói vừa đúng vừa không. Cơ mà trước nhất mình muốn hỏi, bạn nói rằng cụ Tùng Niên theo như bạn biết là nhà nho mẫu mực, thế thì tiêu chuẩn hoặc biểu hiện nào là mẫu mực của một nhà nho (ít nhất là theo bạn). Cũng nên trình bày cái đó ra để định hướng vấn đề. 😊

► Khiếp, sao bác lần nào cũng phải vặn vẹo hắc xì dầu thế ! 😂

Không phải mình cố ý làm khó bạn, cái này người ta nói là tư duy biện chứng, nó cần trong mọi vấn đề và liên quan tới cái bạn hỏi. Nếu chính bạn không hiểu và trình bày nổi điều mình phát ngôn thì người khác cũng không thể trả lời rõ cho bạn được, và có đáp thì e là bạn có thể cũng không hiểu.

► À thì chỉ nghĩ đơn giản là mẫu mực ở đây nghĩa là em thấy Phạm Đình Hổ không có tai tiếng gì (ít nhất như em biết), chăm chỉ học tập, miệt mài nghiên cứu, có hiếu với cha mẹ. Đây chỉ là nhận thức đơn giản có phần dốt của em, mong bác lượng thứ cho, em không có ý gì cả. 😂😂😂😂😂😂 Bác xá cho em nếu em trót nói ngu 😢😢😢😢

Quốc Anh : Ô hay, làm gì mà nghiêm trọng thế ? 😅 relax, relax 😄

Nay mình trả lời bạn Trần Văn Nghĩa.

Thầy giáo bạn có nhắc việc Phạm Đình Hổ, là nhà văn hóa lớn của An Nam thế kỷ XVIII, nhưng đương thời cũng có tiếng xấu, thậm chí nghiêm trọng, khác hẳn với hình ảnh ta thường được biết về cụ. Thế mình mới đáp là thầy bạn nói vừa đúng vừa không.

1. Đúng ở chỗ, con người sống ở trên đời không ai hoàn hảo, ai cũng có lúc tốt lúc xấu, tiếng tăm người ta để lại ở đời theo đó cũng có tiếng tốt tiếng xấu, nhà nho và cả bậc đại nho cũng không ngoại lệ. Đúng nữa là vì các tài liệu lịch sử có nhắc tới tiếng xấu của Phạm Đình Hổ thực.

2. Còn nói cũng có chỗ không đúng, là vì các tài liệu chưa bảo đảm được độ xác thực. Tiếng xấu của Phạm Đình Hổ được ghi lại ở hai tài liệu Quốc sử di biên (國史遺編) và Đại Nam thực lục (大南寔錄). Quốc sử di biên ghi được khá nhiều thông tin, nhưng “di biên” đúng như cái tên, vốn là thể loại nhằm sưu tầm các việc mang tính đồn đãi ; vì thế, chưa thể coi các điều trong đó là hoàn toàn đáng tin, chỉ có thể tạm coi là sự tham khảo. Đại Nam thực lục thì ghi được một việc có liên đới Phạm Đình Hổ ; nhưng xét ra, Thực lục thuộc thể loại chính sử và sẵn có uy tín của triều Nguyễn, điều trong đó đáng tin hơn hẳn và nhiều khả năng thực.

Cụ Phạm phải đường khoa hoạn khó khăn, đỗ không cao, từng thi trượt nhiều bận, nên khi ra làm quan nhà Nguyễn thường bị đồng liêu dè bỉu, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến cả tai vua. Việc ấy nằm trong Đại-nam thực-lục chi Thánh-tổ Nhơn hoàng-đế, đệ nhị kỷ, quyển 105.

◆ Quốc Tử giám Thự tế tửu [1] Phạm Đình Hổ, Tư nghiệp Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu làm việc không hiệp nhau. Vua nghe biết, dụ bộ Lễ rằng : “Thành Quân quán là nơi đầu cho phong hóa, mô phạm quan hệ đều ở đó cả. Nhà nước đặt ra tế tửu, tư nghiệp cốt là để dìu dắt sĩ tử mở rộng văn trị, thế mà bọn kia nhiều việc lủng củng, dạy dỗ thưa thớt, nhân tài ít được tiến ích, thực phụ lòng ta. Hạ lệnh chúng tâu thật minh bạch !“. Đến khi sớ dâng lên để luận tội, Hổ lại nói chêm rằng : “Học thức thô sơ, khoa mục không cao, vẫn bị bạn đồng nghiệp trêu chọc. Nay tuổi già mờ tối, ý nghĩa sách vở ngày một quên lẫn, sợ sức trái với lòng, chỉ thêm tội lỗi, xin từ việc Giám về hầu ở bộ“. Vua dụ rằng : “Phạm Đình Hổ xuất thân học trò, trẫm thấy văn học tài giỏi, cho nên cất nhắc vượt bậc. Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu đều là khoa bảng xuất thân, làm việc lâu ngày, giao cho chức trách lo việc giáo dục, thế mà không biết kính mến nhau, gắng gỏi cho xứng chức vụ, lại lấy ranh giới coi nhau đến nỗi chẳng để tâm vào chức vụ, tư cách làm thầy như thế thì học trò biết nhìn vào đâu ? Nay sức hỏi tâu đáp thì Hổ còn lấy việc bị đồng nghiệp trêu chọc mà tự thác, Thuân và Hựu thì đều nói hàm hồ, đều không phải cả. Đáng lẽ cần giao cho bộ nghiêm bàn, nhưng nghĩ là do mờ tối, hãy tạm trừng trị qua loa. Vả chăng lời Hổ cũng thành khẩn, y lại là người ngay thẳng, nếu cho làm việc quan thì khó thành hiệu. Vậy chuẩn cho thôi việc Giám, vẫn lui về nguyên hàm Hàn Lâm viện Thừa chỉ, giáng hai cấp, bọn Thuận và Hựu cũng giáng hai cấp“.

Trong Quốc sử di biên có chép rằng Phạm Đình Hổ là người ương bướng nên gây ra một số tai tiếng sau :

◆ Thự Tế tửu Phạm Đình Hổ xin từ chức, Hổ là người trực tính, giáo pháp nghiêm cẩn, học trò nếu trước đã bái sư người khác mà nay đến xin học đều không cho nhập môn. Bấy giờ đang ở Giám, có vị công tử ra xin học, ông rút guốc ném. Vị kia cãi lại : “Nếu đánh roi thì còn là hình phạt trong khi dạy học, nay thầy lấy guốc ném tôi là thể thống gì ?“. Liền lấy guốc của mình ném lại Hổ, rồi nói tiếp : “Thầy không phải bậc đại khoa, không đủ làm mực thước dạy người“. Hổ thẹn quá, dâng biểu lên xin về Bắc Thành dưỡng bệnh, vua ban cho 100 quan tiền.

◆ Khi Hổ ở Bắc Thành, gặp kỳ thi Hương, con ông ta làm văn hộ người khác, việc vỡ lở, bị giáo thụ Hoài Đức nọc ra đánh roi. Hổ giận mắng : “Ta hận nỗi không làm được đại quan thôi, chứ còn như đám giáo thụ kia thì môn đồ ta có khối“. Người đời cho là ông quá quắt.

◆ Có viên Cẩm Y vệ giở trò vòi tiền nhà Hổ không được, liền ra đường nói hỗn, bị Hổ đánh cho chảy máu. Viên Cẩm Y ngã lăn ra đất, Hổ liền lấy nồi đồng treo vào người vu cho tội ăn trộm giữa ban ngày, làm bản cáo trạng tố lên Hình tào Nghi. Có lệnh xuống, sai truyền Tri phủ Diễm xét án. Diễm đến xử, chỉ bắt tội Hổ khi quân, nói rằng : “Hoàng thượng nhiều lần hạ chiếu triệu ông, ông lấy cớ vì bị bệnh yếu để từ chối. Thế mà nay đang bệnh nặng, ông lại còn đánh ngã bất tỉnh được người khỏe mạnh, thế thì ai là kẻ khỏe đây ?“. Hổ giận và đuối lý, đập đầu xuống bàn. Diễm bật cười nói : “Dù ông có tháo khăn mà đập vỡ đầu cũng chả vu được cho ta cái tội bức tử, huống hồ giờ đầu ông vẫn còn quấn khăn thì đập vào bàn cũng phương hại được nỗi gì“. Rồi hạ lệnh bắt trói viên Cẩm Y cùng chứng cứ, lập án trạng xong, bảo với Hổ : “Ông có quan phẩm, lại được hoàng thượng trọng dụng, hình tào Bắc Thành không dám xét xử, cần chờ làm sớ tâu lên để định đoạt, sự thể phải như vậy“. Hổ sợ, cố xin giảng hòa [với viên Cẩm Y], nên được miễn thứ. Khi Hổ được phục chức, thường qua lại tự do ở công đường lục bộ [2], ngự sử đề tấu việc đó lên với vua. Vua tha cho, miễn nghị tội và nói : “Hiểu biết, rèn luyện rồi du chơi, nghỉ ngơi ; đấy vốn là bản sắc của kẻ thức giả” . Có viên nhậm tử nọ ở Bối Khê từng chê Hổ rằng : “Ông nổi tiếng là kẻ có văn học, được hoàng thượng trọng dụng, thế mà ngôn động lại sai trái. Bị trong triều ngoài nội đàm tiếu, chỉ riêng ông là không biết hối chăng ?“.

Trên đây là phần trả lời của mình, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người bỏ qua và góp ý !

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Chức vụ về nghi lễ triều đình cũng là chức vụ dạy học tại Quốc Tử giám ngày trước, coi như vị “hiệu trưởng” của trường này.

[2] Theo phép tắc của nhà Nguyễn, quan lại các cấp nếu không có phận sự thì không được phép đi lại tự tiện ở công đường các bộ.

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Viên Giác tự


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Viên Giác tự vốn là một khu đất rộng lớn. Ban đầu, ở đất ấy chỉ có đại điện và thiền đường ở phía Đông và phía Tây. Quán Tập đô giám nằm ở thiền đường phía Tây đại điện, còn Lễ Táng đô giám ở thiền đường phía Đông đại điện, phần đất chính Bắc đại điện là nơi tụ họp của các nho sinh. Tuy nhiên, vua Thế Tổ đã hạ lệnh dựng một ngôi chùa lớn trên đất ấy và đặt là Viên Giác tự. Ngân Xuyên quân và Ngọc Sơn quân được phong chức đề điệu kiêm đại tư hiến và luôn đượm vẻ oai nghiêm của bậc lão tướng. Bởi thế, họ luôn có lính hầu và kị sĩ thổi kèn đi trước, thường người ta kéo đi xem rất đông. Khi chùa mới xây xong, thánh thượng cho mở tiệc mừng và ngài có đi dạo mấy vòng quanh chùa. Lúc ấy có sự lạ xảy ra, từ đỉnh trời trút xuống một cơn mưa tứ hoa và có xá lị rải rắc nhiều mảnh, thế nên thánh thượng đã nhiều lần ân thăng cho các quan trong triều.

Sau ngày đó, trung bộ được chuyển về khu đất của Giá Các khố, Lễ Táng đô giám thì đặt ở Tùng Hiện hành lang và thuộc Quy Hậu thự, còn Quán Tập đô giám nhập với nhạc viện của Phụng Thường tự và đổi thành Nhạc Học đô giám, ít lâu sau Nhạc Học đô giám lại đổi thành Chưởng Nhạc viện. Khi Hồng Nhân Sơn nhậm chức đề điệu thì khu trung bộ đã trở nên chật chội mà người thì đông, nên nó được chuyển đến vùng đất bây giờ và nới rộng hơn. Tòa nhà lớn cùng quy mô hùng tráng ấy là nơi lý tưởng nhất trong tất cả cơ quan hành chính của triều đình bấy giờ và cũng là nơi thực tập lễ nghi của bá quan, đồng thời còn làm nơi mở các khoa thi để tuyển lựa hiền tài.

圓覺寺是古大寺之基。初有大殿及東西禪堂而已。慣習都監寓大殿西禪堂。禮葬都監寓東禪堂。大殿之北。爲中部儒生所會。世祖皆命毀撤。更創大伽藍。名曰圓覺。以銀川君玉山君爲提調。兼大司憲。常於路上用憲官之儀。所由二人呵辟。又令騎士吹簫角前導。士女坌集聚觀。寺成設慶讚會。上屢臨幸焉。有天雨四花舍利分枚之異。屢加百官級。其後中部移於架閣庫之基。禮葬都監。寓松峴行廓。屬歸厚署。慣習都監合於奉常寺之樂學。而名曰樂學都監。未幾改爲掌樂院。洪仁山爲提調。以其地狹人衆。移今之地而大創之。宏堂傑搆。甲於諸廨。爲百官習儀之所。又爲科場取士之處矣。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Bùi Thế Vinh


Cụ ngoại bảy đời của tôi là Bùi Thế Vinh, đỗ tiến sĩ khoảng năm Diên Thành, quan hàm Tự Khanh. Khi nhà Mạc mất ngôi thì ông lui về quê, rồi cùng ông Đỗ Uông làng Đoàn Tùng, ông Nhữ Công Tông làng Nhữ Xá đều được vời ra làm quan nữa, nhưng riêng ông Bùi Thế Vinh lấy dao con rạch đầu gối cáo bệnh không chịu ra. Nhân lúc ấy có bà Thường Quốc phu nhân tự thắt cổ tuẫn tiết. Hai người đều được khen ngợi, nhân có câu ngạn “Con dao Đông Luân, dây thừng phu nhân”.

Loài chi mày Thượng Thông, Thượng Nhữ,
Những dơ tuồng tặc tử gian thần.
Nào dao lá trúc Đông Luân,
Nào thừng tiết nghĩa phu nhân kia là.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hang núi


Hồi chinh phạt miền Nam, mấy người lính đi xuyên rừng thì gặp một cái hang. Vào xem, ban đầu thấy tối đen, nhưng sau rạng dần. Có thể trông rõ được hết, một chốc thấy trong đó có cư dân, tiếng nói ríu rít không sao hiểu nổi. Bọn lính đói quá phải cướp lấy miếng ăn, những người kia tan chạy như chim, nhưng lát sau họ tụ lại rất đông. Bọn lính sợ phải ra, dùng những tên nhọn vừa đi vừa bắn lại. Về thuật cho mọi người, lại kéo đến xem thì chẳng thấy gì cả.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đứa con đen


Người gái phố Lai Trào trấn Hoa Dương lấy người lái buôn nước tây đen. Sau người ấy về nước, nàng hỏi kỳ tái ngộ thì y nói : “Hễ ba năm không thấy sang thì cứ đi lấy chồng khác”.

Qua kỳ hạn thì nàng cải giá, làm bạn với người tên Mỗ, sinh được một đứa giai có da dẻ đen hệt chồng cũ. Toan vứt đi, hỏi có người biết mách cho : “Đấy là dư khí còn vương lại, nên rợ Hồ mới có tục rửa ruột. Không sao đâu !”.

Khi người lái buôn sang tìm vợ, thấy đứa con bèn kiện để đòi. Quan xử đứa con về người lái buôn, còn người vợ vẫn thuộc về Mỗ. Sau nàng sinh mấy đứa nữa, thì đều chẳng khác người thường.

【Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án. «Tang thương ngẫu lục»】

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự đãi ngộ quan chức thuở xưa thế nào ?


Mình xin phép hỏi một câu hơi “thiếu muối” một chút, hôm qua mình đọc được tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống về thời Nguyễn. Có đoạn tác giả cho nhân vật (là quan chức tham nhũng), bao biện cho hành vi của mình, đại ý rằng, quan lại thời Nguyễn mà nếu chỉ dựa vào bổng lộc triều đình ban thì sống rất chật vật, muốn thanh liêm cũng khó. Dĩ nhiên dựa vào tiểu thuyết mà bàn lịch sử thì là vô lý, nhưng mình vẫn muốn biết cái việc chỉ dựa vào lương là khó sống của các quan thời Nguyễn có thực không ?

Thạch Trung : Chả liên quan lắm, nhưng luật thời Nguyễn khá tiến bộ và nghiêm. Năm 1822, dưới triều vua Minh Mệnh, tại Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai nên gạo đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc để bán cho dân. Người quản kho thóc ở kinh là Đặng Văn Khuê được lệnh phát chẩn cho dân, nhưng mỗi hộc lại thiếu một ít. Việc bị phát giác, vua sai bộ Hình tra xét, án xong tâu lên thì vua liền ra lệnh chém. Trong sách ‘Đại Nam thực lục’ còn kể, vào tháng 5 năm 1823, một ông quan của Nội Vụ phủ tên Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng bị phát giác, bộ Hình đem ra xử án. Điều 229 của bộ luật triều Nguyễn có quy định : Kho của vua gọi là Nội Vụ phủ, ở trong cấm địa của hoàng thành, nếu lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu. Tuy nhiên, với Hữu Diệm, thay bằng tuyên án chém thì bộ Hình giảm xuống thành tội lưu đày. Án tâu lên, vua bảo rằng, ở thời vua trước cũng có một viên quan thông đồng với thợ bạc đúc trộm ấn giả để trộm đổi lấy ấn thật trong kho, những tên này đều bị chém ngay. Hữu Diệm dám công nhiên lấy trộm cả cân vàng, thì theo nhà vua trong mắt Diệm đã không còn pháp luật. Vua lệnh giải ngay Hữu Diệm đến chợ Đông Ba chém đầu để răn đe những người khác có ý định phạm tội.

Chính mình cũng từng thắc mắc việc này, nhưng không phải do xem tiểu thuyết mà vì đọc biên chép của cụ tổ mình từng làm quan thời Nguyễn. Để trả lời câu hỏi này cần biết được hai điều : Mức sống trung bình của thường dân thời Nguyễn quy ra tiền ; Các mức lương bổng của quan chức nhà Nguyễn.

Thứ nhất, về mức chi tiêu trung bình, rất tiếc trong phạm vi của mình chưa tìm được bất cứ tài liệu nào.

Thứ nhì, về lương bổng của quan lại nhà Nguyễn, ta có thể tìm được chút thông tin. Vấn đề ở chỗ, các mức lương không cố định trong suốt lịch sử nhà Nguyễn mà luôn thăng giảm tùy thời, chưa kể mức sống mỗi nơi, mỗi thời mỗi khác, gia cảnh mỗi quan lại cũng khác, cùng một mức lương bổng, ở chỗ này sống dư dật, chỗ khác lại khó khăn.

Đây là vấn đề khó nói mà tới tận giờ mình cũng chưa có kết luận trọn vẹn. Bởi thế, chỉ có thể cung cấp các thông tin và nhận định mang tính chất cục bộ cho bạn từ hướng cá nhân mình mà thôi, vì như đã nói trên điều bạn hỏi có tính chất đầy co giãn. Như trường hợp cụ mình, làm quan từ năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) tới năm Tự Đức thứ 21 (1869) thì nghỉ hưu, bảng lương quan lại trong thời điểm đó đại để :

◆ Chánh nhất phầm: Lương bổng các loại cộng lại 1 năm là 470 quan, 300 phương gạo. Như vậy trung bình (TB) mỗi tháng được gần 40 quan, 25 phương gạo.

◆ Tòng nhất phẩm: 360 quan, 250 phương gạo. TB tháng: 30 quan, hơn 20 phương gạo.

◆ Chánh nhị phẩm: 300 quan, 200 phương gạo. TB tháng: 25 quan, gần 16 phương 6 thăng gạo.

◆ Tòng nhị phẩm: 210 quan, 150 phương gạo. TB tháng: hơn 17 quan tiền, hơn 12 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tam phẩm: 170 quan, 120 phương gạo. TB tháng hơn 14 quan, 10 phương gạo.

◆ Tòng tam phẩm: 136 quan, 90 phương gạo. TB tháng hơn 11 quan, hơn 7 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tứ phẩm: 94 quan, 60 phương gạo. TB tháng: gần 8 quan, 5 phương gạo.

◆ Tòng tứ phẩm: 70 quan, 50 phương gạo. TB tháng: gần 6 quan, hơn 4 phương 1 thăng gạo.

◆ Chánh ngũ phẩm: 49 quan, 25 phương gạo. TB tháng: 4 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng ngũ phẩm: 43 quan, 30 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, 2 phương 5 thăng gạo.

◆ Chính lục phẩm: 37 quan, 25 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng lục phẩm: 31 quan, 22 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan; gần 1 phương 8 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng thất phẩm: 27 quan, 20 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan, gần 1 phương 6 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng bát phẩm: 24 quan, 18 phương gạo. TB tháng: 2 quan, 1 phương gạo rưỡi.

◆ Chánh và tòng cửu phẩm: 22 quan, 16 phương gạo. TB tháng: gần 2 quan, 1 phương 3 thăng gạo.

Lưu ý, các chức cụ từng làm theo thứ tự là : Thư lại bút thiếp Tòng cửu phẩm – Tri huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Tòng lục phẩm – Kinh lịch tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – Giáo thụ phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – chức cuối cùng và cao nhất, là Đồng tri phủ Lý Nhân (cũng là quê cụ), tỉnh Hà Nội, Chánh lục phẩm, tuy nhiên, cụ chỉ làm được có ba năm thì bị bệnh phải xin về trí sĩ.

Cụ có viết lại trong tập tạp bút rằng : “… tôi mang ấn thụ, mặc phẩm bào hơn 20 năm, được như ông Nhữ Hiền [1] thì không dám nhận. Dẫu vậy, cũng đã cố hết sức giữ đức thanh thận, cần kiệm, tự xét thấy với triều đình, với đạo nghĩa, với dân tâm, chưa làm việc gì đáng hổ thẹn. Nhưng được thế, cũng là do trước kia thầy học luôn răn dạy nghiêm cẩn về cái lẽ đạo quân tử cốt trọng thanh bần. Gia dĩ, nhờ phúc ấm tổ tông, còn để cho dăm mẫu ruộng với nghề làm lụa, sau cùng, bà vợ già lại biết quản gia sự, khéo làm ăn, nên cảnh nhà không tới nỗi. Chứ nếu dựa cả vào bổng lộc khi cao nhất cũng chỉ hơn 3 quan tiền, 2 phương gạo của tôi mỗi tháng, thì trừ phi chịu cảnh phúc mỏng, đường hương hỏa hẹp [2], còn không, cả nhà 8 miệng ăn, thêm 2 cái túi da hứng tiền [3], thực là khó sống, khó liệu, nhất là đến những khi tháng 3 ngày 8 [4]. Lúc ấy, chả biết đức thanh liêm giữ nổi hay không ?…“, “Lão tiện nội (vợ cả) có lần từng đùa, giá ông làm được đến ông đốc một tỉnh [5], thành ra lương cao, thì cái thân mụ này đỡ phải vất vả chạy vạy, mà ông khéo cũng lập được đến mấy phòng [6], có cái tiếng phong lưu. Đằng này, người ta cho làm tri phủ trẻ ranh [7], giờ về hưu, gì mà chả nghèo ? Tôi nghe chỉ biết cười ha hả…“. 

Các điều cụ viết đã trăm năm có lẻ, dù thực hay không mình không kiểm chứng nổi và cũng không dám thắc mắc, mình cũng chỉ biết là sau này cụ mất cũng không để lại mấy tài sản, con cháu chỉ sàn sàn đủ ăn, không giàu nổi. Vậy ít nhất từ những cái mình thấy được, thì trước thời Pháp thuộc, các quan lại nhà Nguyễn nếu thực sự thanh liêm, hoàn toàn chỉ dựa vào lương bổng, không có nguồn thu khác (cả bất chính lẫn ngay thẳng) thì quan dưới ngũ phẩm có cuộc sống khá bấp bênh, do lương bổng hạn chế cộng với việc nhà đông con cái (cái này thì thời đó đừng nói là quan lại, cả nhà dân thường cũng đông nhân khẩu như thế thôi). Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không mấy khi có việc quan lại chỉ dựa vào một nguồn thu từ lương bổng, bao giờ ít nhất cũng có thêm một nguồn thu nữa, điển hình nhất là việc có nguồn thu từ canh tác nông nghiệp trên ruộng đất của gia đình, vậy nếu tính thêm khoản này thì các quan tối thiểu cũng đủ sống.

À mà bổ sung thêm, trong biên chép cụ còn kể, khi mới làm quan có nghe các huynh trưởng nhắc tới câu khẩu quyết nhập môn của nghề là “Thăng quan thượng kinh, phát tài hạ tỉnh” (Thăng quan lên kinh, phát tài xuống tỉnh). Nghĩa là nghề làm quan, nếu muốn nhanh thăng tiến thì nên nhậm chức trong kinh đô, làm kinh quan vì ở kinh đô ngay dưới chân thiên tử, hội tụ các cơ quan trung ương, quan chức lớn, tai mắt đều nhiều ; làm kinh quan dễ lọt được vào “mắt xanh” của cấp trên để từ đó thăng tiến. Còn nếu anh muốn kiếm cho đầy túi, thì nên xin bổ vào các chức quan ngoại nhiệm làm việc ở các tỉnh, vì như cụ Nam Cao nói “xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ“, làm quan ngoại nhiệm xa tầm kiểm soát của triều đình, có thể thẳng tay vơ vét.

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Nhữ Hiền (汝贤) là biểu tự của Hải Thụy (海瑞, 1515 – 1587), vị quan nổi tiếng thanh liêm, chính trực thời Minh.

[2] Ý bảo, trừ phi nhà ít con cái thì mới sống được với chút tiền lương đó, xưa người ta quan niệm nhà đông con cháu thì là nhiều phúc, ít con cháu là phúc mỏng.

[3] 8 miệng ăn : 1 chồng, 2 vợ, 5 đứa con ; 2 cái túi da hứng tiền : 1 tớ giai và 1 tớ gái.

[4] Tháng 3 ngày 8 : Ý nói là vào khoảng vụ giáp hạt, thường thời điểm đó ngày xưa gạo thu hoạch được của vụ cũ đã cạn, nhưng chưa đến vụ thu hoạch mới, nên hay xảy ra nạn đói.

[5] Đốc học, trật chánh ngũ phẩm.

[6] Lấy thêm vợ lẽ, nàng hầu.

[7] Đồng tri phủ (同知府), trong đó chữ Đồng (同) đọc lên cùng âm với Đồng (童) nghĩa là trẻ con. Bản thân chức Đồng tri phủ cũng không phải cao, nắm quyền cả một phủ như chức tri phủ trật ngũ phẩm, mà chỉ là ở dạng cấp phó.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhạc công qua các thời đại


Dung Trai tùng thoại (慵齋叢話 / 용재총화) là nhan đề tuyển tập 324 bài ký bằng Hán văn của tác giả Thành Hiện (成俔 / 성현, 1439 – 1540), được viết trong khoảng thời gian 1499 – 1504. Trứ tác này là pho tư liệu quan trọng và đầy hấp dẫn về bối cảnh Triều Tiên giai đoạn đầu triều Lý. Dưới đây là một bài ký qua bản dịch của Đào Thị Mỹ Khanh.

Trong những môn đòi hỏi nhiều kỹ năng thì âm nhạc là thứ khó học nhất, không có thiên tư thì người học khó thành công ở lĩnh vực này. Thời Tam Quốc đã có nhiều thứ nhạc cụ khác nhau, nhưng thời gian trôi không ai có thể tìm hiểu rõ về chúng. Chỉ biết, huyền cầm xuất hiện ở Tân La, già da cầm ở Kim Quan, còn đại linh phỏng theo Đường địch. Tiếng đại linh khỏe khoắn và hùng tráng nên được xem là nhạc cụ căn bản. Hương tì bà cũng phỏng theo Đường tì bà, cách bố trí dây của hương tì bà tương tự huyền cầm. Với người học hương tì bà, cách chọn đàn, nghe tiếng và gảy đàn đều khá phức tạp ; hễ gảy không đúng cách thì sẽ không nghe được tiếng đàn. Quan điển nhạc Tống Thái Bình là người gảy hương tì bà rất giỏi, nhưng con ông là Tống Điền Thủ còn tài hoa hơn. Thuở nhỏ, tôi từng được thưởng tiếng hương tì bà của Điền Thủ ở nhà huynh trưởng tôi, tiếng đàn của ông nghe rất sướng tai khiến tôi tưởng được móng tay của bà tiên Ma Cô gãi ngứa cho vậy. Lúc ấy, tôi chỉ biết nghe mãi mà không chán. Tuy nhiên, tài năng của Tống Điền Thủ chưa thể sánh Đô Thiện Cát, sau Tống Điền Thủ chỉ có Đô Thiện Cát gảy hương tì bà ngang với Tống Thái Bình, ngoài ra không ai bì nổi. Nay không còn ai gảy hương tì bà giỏi cả.

Với Đường tì bà, Tống Điền Thủ được xem là đệ nhất danh thủ, và Đô Thiện Cát cũng được sánh ngang. Gần đây cũng có nhiều tay tì bà tài ba. Khi mới học nhạc, dù là bậc sĩ đại phu hoặc thứ dân đều phải tập tì bà trước. Tuy nhiên, không có người xuất chúng về tì bà, chỉ có Kim Thần Phiên học được tất cả các ngón đàn của Đô Thiện Cát. Kim Thần Phiên tính hào sảng và phóng túng, ông gảy điêu luyện hơn cả Đô Thiện Cát.

Huyền cầm là thứ đàn hay nhất trong mọi nhạc cụ, nó như cánh cửa đi vào âm nhạc. Có người mù tên Lý Ban gảy huyền cầm vang danh đến nỗi được vua Thế Tông triệu vào cung biểu diễn. Kim Tư Lệ cũng là người gảy huyền cầm rất cừ, nhưng tôi không học được cách gảy đàn của ông. Nếu so với những người gảy huyền cầm ngày nay thì không ai sánh được Kim Tư Lệ. Kim Đại Đinh, Lý Cá Trí, Quyền Mỹ, Trương Xuân đều là linh nhân cùng thời. Đương thời, các luận giả cho rằng : Đại Đinh thì giản nghiêm, Cá Trí thì yếu diệu, đều đạt đến tột đỉnh. Đại Đinh bị giết khi còn trẻ nên không ai còn được nghe tiếng đàn của ông. Quyền Mỹ và Trương Xuân đều là những tay đàn tầm thường. Chỉ Cá Trí được sĩ lâm ưu chuộng, nên đã hai lần ông được làm chức điển nhạc.

Tôi từng cùng Hi Lượng, Bá Nhân, Tử An, Sâm Trân, Nhi Nghị, Kỳ Thái, Trù Chi đến học nhạc ở thầy Cá Trí. Hàng ngày chúng tôi đến học nhạc với thầy, đôi khi ngủ lại nhà thầy, và chúng tôi đã rất quen tiếng huyền cầm của thầy. Nó dường không phát ra từ thanh gảy hay cách gảy, mà từ đáy huyền cầm. Khi nghe tiếng huyền cầm của Cá Trí, tôi lấy làm kinh sợ, quả là điêu luyện trác tuyệt. Sau khi thầy Cá Trí mất, tiếng đàn của thầy còn ở mãi thế gian. Nay trong các nữ bộc của nhà sĩ đại phu có nhiều người giỏi huyền cầm, họ đều học được di pháp của Cá Trí, nhưng không ai bì được đám tiện nhân mù lòa. Quan điển nhạc Kim Phúc và nhạc công Trịnh Ngọc Kinh đều giỏi đánh trống và được xem là danh thủ, kỹ nữ Thượng Lâm Xuân cũng được xem là xứng tầm với họ.

Già da cầm có Hoàng Quý Tồn rất thành thạo, nhưng tôi chưa từng được nghe tiếng đàn của ông. Ngoài ra, Kim Bốc Sơn cũng là tay già da cầm tài ba, đương thời ai cũng ưng phục không thể phủ nhận năng lực của ông. Gần đây có bà lão Chiêu Sử bị đuổi khỏi nhà Công Hậu. Tiếng đàn yếu diệu của bà lan truyền khắp nơi, không ai địch nổi. Nghe đồn, thầy Cá Trí cũng phải vuốt lại vạt áo và mất ăn ngủ vì tiếng đàn ấy.

Nay có người mù tên Trịnh Phàm giỏi già da cầm hơn tất thảy nhạc công mù và được nhiều người nhắc đến. Triều Thế Tông có các nhạc công Hứa Ngô Kế, Lý Thắng Liên, Từ Ích Thành. Thắng Liên được Thế Tổ biết tiếng nên từng được vua bái chức quân. Ích Thành lai vãng Nhật Bản và mất ở đó. Nay có Kim Đô Trí tuy đã ngoại bát tuần nhưng tiếng đàn vẫn chẳng suy, vậy ông được xem là cự phách về các thứ đàn dây. Trước có Kim Tiểu Tài cũng rất giỏi già da cầm và ông cũng mất ở Nhật Bản. Sau đó già da cầm bị phế tuyệt khá lâu, nay thánh thượng lưu ý việc dạy già da cầm nên có nhiều người thành thạo lắm.

音樂於諸技最難學。非有天資者。不能得其眞趣。三國各有音律樂器。然世代綿邈不可詳。惟今之玄琴。出於新羅。伽耶栞出於金官。大笒倣唐笛而爲之。其聲最壯。爲樂之根本。鄕琵琶亦倣唐琵琶。其設掛則與玄栞同。其調絃撚撥。學者難之。不善鼓則不堪也。有典樂宋太平善彈。其子田守傳得其法尤妙絶。余少時在伯氏家聽其聲。如麻姑爬癢。靡靡不厭。然比諸都善吉則不及也。然田守而下。惟善吉近之。其他則不可及也。今則無能之者。唐琵琶則田守亦爲第一手。善吉與之齊名。今之伶人多有能者。至如士庶。學樂必先琵琶。然無有拔萃者。惟金臣番盡得善吉指法。而豪縱過之。亦今之第一手也。玄琹於樂最善。學樂之門戶。有盲李班。遇知於世宗。出入禁中。有金自麗者。亦善鼓栞。余少時聽之。慕其音而不得指法。今若律以伶人之樂。則未免古態也。伶人金大丁李亇知權美張春皆一時人。當時論者云。大丁之簡嚴。亇知之要妙。各臻其極。大丁早誅未及聽。美春皆凡手。惟亇知爲士林所重。至紆聖眷。再爲典樂。余與希亮伯仁子安琛珍而毅耆蔡籌之。嘗往學焉。日日邀致。或時偕宿。聽之甚慣。其爲聲也。如從琴底出。無匙撥所行之跡。心神驚悚。眞絶藝也。亇知死後其音盛行於世。今士大夫家女僕。亦有能之者。皆得亇知遺法。無瞽矇鄙習。典樂金福樂工鄭玉京尤善鼓。爲當時第一手。有妓上林春。亦寢近之。伽耶栞則有黃貴存者善彈。余未及聽。又聽金卜山之彈。當時服膺而不能已。以今觀之。則亦太質直也。近有老女召史者。自公侯家謫出。始播其音於外。其音要妙。人無與敵。亇知斂袵自以爲不能及。今有鄭凡者。盲中之最善彈。膾炙於世大矣。世宗朝有許吾繼。有李勝連徐益成。勝連遇知於世祖。拜軍職。益成往日本而死。今有金都致。年過八十。而聲猶不衰。推爲巨擘牙箏。昔有金小材者能之。而亦死於日本。其後廢絶已久。今上留意敎之。能者相繼而出。

Categories: ♥♥ Văn chương chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phép tắm gội đời xưa


Trong Đại Việt sử ký toàn thư có chép câu truyện khiến người ta đọc tới phải chưng hửng, đó là tích Trần Quốc Tuấn tắm giùm Trần Quang Khải. Tích này thường được cho là thể hiện tình đoàn kết của triều Trần, nhưng ngoắt ngoéo ở chỗ người chép sử không lý giải được ý nghĩa việc “tắm cho” này, khiến đời sau thấy vô duyên lãng xẹt. Đoạn ấy như vầy :

Một hôm, Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Lại Quang Khải vốn sợ tắm gội, Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Quang Khải : “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”. Rồi cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói : “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng nói : “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai người càng thêm mặn mà. Bản thân làm tướng văn tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu (Bản kỷ – Anh Tông hoàng đế).

Sử sách An Nam chuyên đặc tả những gương lẫm liệt hào hùng và gạt bỏ chi tiết đời thường, nên nay thật khó biết vua tôi đời Trần tắm giặt thế nào, chỉ có thể tham khảo những biên chép từ Trung Hoa để tìm hiểu, hầu lý giải vụ “tắm cho” này.

Phần đông loài người chỉ mới tập thành thói quen tắm rửa khoảng gần 200 năm nay. Trước đó, người ta vẫn xem việc vài tháng không tắm là sự thường. Ở châu Âu, vào thế kỷ IV, hình thức tắm táp còn là để tra tấn tội phạm. Tới thế kỷ XVII, người châu Âu vẫn xa lạ với việc vệ sinh thân thể ; ở Tàu thì có khác. Các giáp cốt văn thời đại Ân Thương hơn 3000 năm trước đã biên chép về việc tắm gội (mộc dục / 沐浴). Sách Chu lễ soạn thời Tiên Tần bắt đầu chế định tắm gội là nghi thức bắt buộc của vua quan mỗi khi muốn tham gia tế lễ cúng bái, kèm theo đó là những quy định cụ thể về cách bài trí và vật dụng cần có của phòng tắm trong vương thất.

Năm 334, Võ đế nhà Hậu Triệu là Thạch Hổ cho dựng chỗ tắm riêng gọi “Long ôn trì” [1], đó là “phòng tắm tư nhân” quy mô xuất hiện sớm nhất ở Trung Hoa. Đến Nam Bắc triều, Giản Văn đế nhà Lương là Tiêu Cương (503 – 551) đích thân soạn công trình nghiên cứu phép dưỡng sinh, lấy việc tắm gội làm chính, là Mộc dục kinh (3 quyển). Sang đời Đường, kiến trúc hoàng cung phủ đệ đã dành hẳn chỗ tắm táp riêng; hiện trong Thanh Hoa cung, một trong “tứ đại danh viên” [2], vẫn còn “Thanh Hoa trì” là chỗ để hoàng đế và hậu phi tắm gội. Đời Tống, do thương nghiệp phồn thịnh, đã có hình thức kinh doanh nhà tắm công cộng. Trong Năng cải trai mạn lục (能改齋漫錄) do danh sĩ Nam Tống là Ngô Tăng soạn năm 1162 còn cho biết các chủ nhà tắm đã biết dùng chiêu ưu đãi khách quen đặng giữ mối lâu dài. Không chỉ thế, còn xuất hiện thêm dịch vụ kỳ lưng cho khách tắm, như trong bài từ Như mộng lệnh của Tô Đông Pha (1037 – 1101) ghi nhận [3]. Từ đầu thế kỷ XVI trở đi, hệ thống nhà tắm công cộng phổ biến khắp Tàu, tỉnh thành nào cũng có [4].

Theo định chế từ đời Tần, việc tắm táp không chỉ là vệ sinh thuộc cá nhân, mà còn là nghi thức bắt buộc đối với bá quan, cả trung ương xuống phủ huyện. Cách ba ngày phải gội đầu (gọi là “mộc”), cách năm ngày phải tắm toàn thân (gọi là “dục”). Vì thế, đời Hán có lệ cứ cách năm ngày lại cho các quan được nghỉ một ngày tắm táp, ngày nghỉ đó gọi “hưu mộc” (休沐 / Nghỉ phép để tắm gội). Trước khi yết kiến hoàng đế, quan viên vào chầu chín bệ cũng như cung phi được chọn hầu ngự tẩm đều bắt buộc phải qua nghi thức tắm rửa sạch sẽ, thay đổi y phục tinh tươm, bằng không sẽ phạm tội khi quân.

Việc tắm rửa do đó thành quy phạm cho cả dân gian. Sách Lễ ký, thiên “Nội tắc” quy định dân chúng cách năm ngày phải dậy sớm để tắm rửa thay y phục ; trong nhà lại phải có phòng tắm riêng cho nam nữ, vợ chồng không được tắm chung. Khi cha mẹ già yếu, con cái có bổn phận mỗi sáng phải giúp rửa mặt rửa tay, mỗi tối rửa chân, cách ba ngày giúp gội đầu, năm ngày giúp tắm gội cho cha mẹ. Cả hòa thượng, đạo sĩ cũng không ngoại lệ, bắt buộc phải tắm rửa theo đúng nghi thức, gọi là lễ “tịnh thân” trước khi làm pháp sự.

Trong phòng tắm của Trung Hoa thời xưa có đặt thùng gỗ to đủ ngâm nguyên người để tắm, đúng như Cổ Long đã tả cảnh Phong Tứ Nương tắm trong quán trọ ở đoạn mở đầu bộ kiếm hiệp Tiêu Thập Nhất lang. Ngoài ra, trong phòng còn có lò nấu nước, có ngăn để hương liệu, và cả nhà xí riêng.

Người Tàu xưa tắm cũng hệt như người thời nay, không chỉ dội nước ngâm suông mà tẩm đủ thứ hương liệu giúp thân thể thơm tho. Từ đời Đường, người ta đã tạo ra xà-phòng từ đậu nành và cho tinh dầu, thảo dược dưỡng da vào chậu tắm. Sang đời Tống, lại phát hiện ra trái bả đậu có hoạt chất giúp tẩy rửa, nên đã có kỹ nghệ bào chế xà-phòng cục từ đậu nành và bả đậu để cung ứng nhu cầu vệ sinh. Cái bàn chải kỳ lưng cũng là được chế tạo vào thời này.

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

Trở lại với câu hỏi đặt ra ở đầu bài viết : Tại sao Toàn thư lại chép truyện tắm này ? Dụng ý muốn nói gì ? Việc đó có thật đáng tin không ?

◆ Nhà Trần vốn gốc Phúc Kiến bên Tàu, lại xuất thân từ nghề chài lưới nên lệ tắm rửa vệ sinh theo Tàu hẳn là phải có. Việc khó thể xảy ra là Trần Quang Khải, một Thượng tướng Thái sư lại lười tắm thì sao có thể làm gương cho bá quan những lúc nghị triều ? Việc không tắm này là tội khi quân thời đó, nên nếu có cũng phải giữ kín, có đâu để đồn ra khiến thiên hạ đều hay ?

◆ Lại nữa, nếu nói trước đó hai bên có hiềm khích thì sao lại có truyện Khải đến chơi với Tuấn cả ngày ? Trần Quang Khải nắm thực quyền trong tay, chỉ dưới mỗi vua Trần, e là không phải lo sợ gì một hoàng thân thất thế, suốt đời không một lần được tin tưởng giao quyền hành như Trần Quốc Tuấn [5]. Mối “hiềm khích” đó nếu có, cũng chỉ có thể ở phía Tuấn mà thôi, nên ông này mới phải cầu cạnh, hạ mình để xin được làm cái việc “tắm giùm”, vốn chỉ là phụng sự của đầy tớ đối với chủ, con cái với cha mẹ như vậy.

Đoạn văn nói trên của Toàn thư đầy mâu thuẫn, khiến ngay cả những ai sau này trích dẫn để chứng minh tình đoàn kết trong gia tộc Trần đều lúng túng, không sao giải thích thỏa đáng. Vậy nó từ đâu mà có ?

Nếu để ý sẽ thấy việc lười tắm của thái sư đầu triều Trần khá giống vụ tể tướng đầu triều Tống, Vương An Thạch. Truyện kể rằng : Vương An Thạch (1021 – 1086) vốn sợ nước, thường khi nửa năm không tắm giặt, cũng không thay quần áo. Hai người bạn thân là Ngô Sung [6] và Hàn Duy [7] thấy vậy bèn ép rủ Thạch đi nhà tắm công cộng, thuê người kỳ cọ, tẩm nước thơm cho. Từ đó, Thạch mới thường xuyên cùng hẹn bạn đi tắm. Và Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên đã cải biên một giai thoại của Trung Hoa thành chính sử của An Nam như vậy đó. Ta nói, Bắc Việt đã có tập tính bắt chước giả làm Tàu từ trong máu, thiệt xui mà !

~~~~~~~~~~~~

[1] Sở dĩ có tên “Long ôn trì” (龍温池) là vì khi vua tắm, nội thị thả những con rồng bằng rồng bằng đồng được nung đỏ xuống hồ để giữ cho nước ấm.

[2] Tứ đại danh viên, tức Di Hòa viên ở Bắc Kinh, “Ti thử sơn trang” ở hạt Thừa Đức tỉnh Hà Bắc, Chuyết Chính viên và Lưu viên ở Tô Châu tỉnh Giang Tô. Đây là 4 khu thượng uyển của vua chúa các đời, nay đều là địa điểm du lịch nổi tiếng.

[3] Ký từ sát bối nhân, trú dạ lao quân huy trửu (寄詞擦背人, 晝夜勞君揮肘 / Hầu kỳ lưng cho khách, ngày đêm nhọc nhằn mỏi khuỷu tay).

[4] Nếu ngày nay, người An Nam có tập quán xin chữ ký quota trong quán nhậu thì bọn Tàu kinh doanh thuở trước cũng có thói quen bàn bạc việc kinh doanh trong ngăn riêng ở nhà tắm công cộng. Hễ khách xa đến thì theo lễ phép, phải mời khách đi tắm trước đã, đó chính là nguyên nghĩa của từ “tẩy trần” (tẩy rửa bụi bặm đường xa).

[5] Về chức “Quốc công Tiết chế” hữu danh vô thực của Tuấn, xin xem thêm ở đây : Bi kịch Trần Quốc Tuấn.

[6] Ngô Sung (1021 – 1080), tự Trọng Khanh, quê Phúc Kiến. 18 tuổi thi đậu Tiến sĩ, là đại thần của Bắc Tống, làm quan đến Kiểm hiệu Thái phó Khu mật sứ.

[7] Hàn Duy (1017 – 1098), tự Trì Quốc, người Hà Nam. Cháu ngoại Vương Đán (Tể tướng trào Tống Chân Tông). Là một danh sĩ phong lưu, quan đến chức Môn hạ Thị lang.

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Họ Hồng Bàng từ đâu chui ra ?


Như đã nói, họ Hồng Bàng là thứ âm binh ôn dịch do Ngô Sĩ Liên mới đưa vào Toàn thư hồi cuối thế kỷ XV, nhằm tìm một ông tổ chánh gốc Tàu cho Giao Chỉ (Bắc Việt) [1]. Và gốc cái “Kỷ Hồng Bàng thị” trong Toàn thư kia cũng không ở đâu xa, là chính ở công sưu tầm truyện quái đản truyền kỳ của bậc túc nho kia thôi : Nghĩa là mót từ Lĩnh Nam Chích Quái.

Như tên sách, “chích” 摭 nghĩa là nhón lấy, nhặt lấy. “Lĩnh Nam chích quái” 嶺南摭怪 là tuyển tập sưu tầm những truyện kỳ quái ở đất Lĩnh Nam. Từ “Lĩnh Nam” vốn có hai nghĩa. Ở nghĩa rộng, nó là vùng đất mênh mông bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, và cái thẻo đất lủng lẳng trong kẹt háng của Trung Hoa, mà sau này sẽ thành Giao Chỉ tức Bắc Việt. Theo nghĩa hẹp thì Lĩnh Nam dùng để chỉ khu vực phía nam của dãy Ngũ lĩnh. Lĩnh Nam còn gọi “Lĩnh ngoại”, “Lĩnh biểu” (chữ biểu 表 đồng nghĩa với ngoại 外, cùng là “bên ngoài”). Điều lạ thường là ở Giao Chỉ, từ “Lĩnh Nam” lại có nghĩa mặc định là đất đai vốn có tự cao tằng tổ khảo của dòng giống Lạc Việt, bất chấp thực tế địa lý lưu vực sông Hồng cách dãy Ngũ lĩnh vạn dặm, vậy mới cà tưng, he-he !

Và các học giả An Nam sẽ luôn hiểu từ “Lĩnh Nam” của tựa sách Lĩnh Nam Chích Quái theo cái nghĩa đặc dị đó, bất chấp luôn những truyền kỳ chép trong đó phần lớn là cóp nhặt của các tộc khác [2]. Bộ Lĩnh Nam Chích Quái được hình thành cùng một kiểu như bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư, nghĩa là các đời sau cứ lôi bản đời trước ra để chỉnh lý theo ý mình. Cõi An Nam văn vật từ xưa vốn chẳng có chút khái niệm nào về tác quyền, vậy nên tác phẩm văn hiến truyền đến đời sau thì thành một đám hỗn độn, chẳng thể phân biệt đoạn nào của ai, viết vào thời nào nữa.

Soạn giả ban đầu được cho là Trần Thế Pháp, một “danh sĩ” đời Trần, nhưng chẳng ai biết tiểu sử ông, thậm chí mù mịt cả năm sinh năm mất. Chỉ thấy trong “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn có ghi Lĩnh Nam chích quái là do Pháp soạn. Đến 1492 (niên hiệu Hồng Đức 23), Vũ Quỳnh nhuận chính, thậm chí chả hề đả động tới tên tuổi người soạn ban đầu. Rồi 1679, có người tên Nguyễn Nam Kim đưa thêm vào 4 truyện. Năm 1749, Vũ Đình Quyền phụng chỉ Lê Duy Diêu (sau khi băng, được tôn miếu hiệu Lê Hiển tông) soạn thêm 2 truyện. 1757, Vũ Khâm Lân lại soạn thêm đưa vào, không rõ nhiêu truyện. Sang đời Mạc, lại có Đoàn Vĩnh Phúc tham gia bổ sung truyền kỳ cho “Lĩnh Nam”. Tổng cộng, sách có 45 truyện, nhưng may thay, đến nay chỉ còn 22 truyện. Và truyện đầu tiên chính là truyện viết về họ Hồng Bàng.

Ngoại kỷ Toàn thư kể về Kinh Dương vương chính là cải biên từ tiểu thuyết thần kỳ “Liễu Nghị truyện” của Lý Triều Uy nhà Đường. Và hơn thế nữa, phần Kỷ mở đầu cho quốc sử An Nam đó lại được thực hiện bằng thao tác copy+paste. Thử so sánh, đây là Kỷ Hồng Bàng thị trong Toàn thư : “Kinh Dương vương. Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. (…) Xưa cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long quân (Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)” [3].

Và đây là đoạn mở đầu truyện họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam Chích Quái : “Đế Minh cháu ba đời Viêm đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long nữ là con gái Long vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương vương không biết đi đâu mất” [4].

Dùng chuyện hoang đường làm chính sử, Ngô Sĩ Liên chẳng những có công tạo dựng tổ tiên cho nòi Hồng Lạc, mà còn làm điên đảo các học giả An Nam đời sau. Họ lũ lượt nhau vin vào cái nguồn cội hồ Động Đình, sự trùng hợp đồng âm giữa họ Hùng 熊 (con gấu) của các vua nước Sở với chữ Hùng 雄 (con chim trống, aka biết đạp mái) của Hùng vương. Kèm theo đó là cách gọi con gái vua Sở là Mị y hệt như Mỵ nương của An Nam. Từ đó hàng đống sách vở lý thuyết được đặt ra để nhận An Nam là giống hoàng gia của Sở, chắc cũng oai phong lắm, ngang hàng Hạng Tịch. Ít ai chịu dò lại gốc của họ Hồng Bàng kia là từ tiểu thuyết xà thần ngưu quỷ chui ra để nhận ra mình đặt giả thuyết trên nền tảng của một cú lừa ngoạn mục.

~~~~~~~~~~~~

[1] Quốc sử An Nam (kỳ 1)

[2] Đây là sự sao chép, không phải dị bản cổ tích. Sẽ lần lượt điểm các truyện trong Lĩnh Nam chích quái để đối chiếu và chứng minh.

[3] Nguyên văn : 涇陽王 諱祿續,神農氏之後也。炎帝神農氏三世孫帝明,生帝宜。既而南巡至五嶺,接得婺僊女,生王。王聖智聰明,帝明奇之,欲使嗣位。王固讓其兄,不敢奉命。帝明於是立帝宜為嗣,治北北,封王為涇陽王,治南方,號赤鬼國。王娶洞庭君女,曰神龍,生貉龍君〈按《唐紀》,涇陽時有牧羊婦,自謂洞庭君少女。嫁涇川次子,被黜。寄書與柳毅,奏洞庭君。則涇川、洞庭世為婚姻,有自來矣〉。

[4] Nguyên văn : 炎帝神農氏三世孫帝明,生帝宜,南巡狩至五嶺,得婺仙之女,納而歸。生祿續,容貌端正,聰明夙成。帝明奇之,使嗣位。祿續固辭,讓其兄。乃立宜為嗣,以治此〔北〕地。封祿續為涇陽王,以治南方,號為赤鬼國。涇陽王能行水府(一作入水),娶洞庭君龍王女,生崇纜,號為貉龍君,代治其國。涇陽王不知所之。

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Quốc sử An Nam (kỳ 1)


Như mặt trăng tách ra từ trái đất, thành hành tinh của địa cầu, An Nam (Bắc Việt) từ khi tách khỏi mẫu quốc Trung Hoa chưa bao giờ thoát khỏi ảnh hưởng của Tàu. Không phải chỉ người các nước khác, mà suốt ngàn năm nay, ngay chính Bắc Việt vẫn luôn tự nhận mình là “tiểu Trung Hoa”. Nguồn cơn ấy, có đọc Đại Việt sử ký toàn thư ta mới cảm thông phần nào tâm trạng các triều đại An Nam : Nỗi khắc khoải của đứa con bỏ nhà ra đi vì tưởng mình bị ruồng bỏ.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BỘ QUỐC SỬ

An Nam bắt đầu có quốc sử vào triều Trần, khoảng hậu bán thế kỷ XIII.
Trần Hoảng (Trần Thánh tông), thời gian tại vị (1258-1279) đã có nhiều nỗ lực củng cố và phát triển bộ máy nhà nước (tất nhiên là theo khuôn mẫu Trung Hoa). Ngoài các Thượng thư sảnh tương đương Lục bộ, có nhiều cơ quan mới được thành lập: Ngự sử đài có trách nhiệm giám sát công việc triều chính, Hàn lâm viện lo giấy tờ, Quốc tử giám chăm nom giáo dục cho các con quan, Thái y viện chăm sóc sức khỏe hoàng tộc, và Quốc sử viện để biên soạn lịch sử.
Đầu năm Nhâm Thân [niên hiệu Thiệu Long 15 (1272)]: “Mùa Xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu[1] Lê Văn Hưu vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên. Vua xuống chiếu khen ngợi” (theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ 5 – Thánh tông hoàng đế, tờ 33a-b).
Từ đó, bộ quốc sử này thành căn cốt của lịch sử An Nam (tức Bắc kỳ). Suốt 250 năm tiếp theo, các đời “sử gia” sẽ lần lượt chỉnh sửa nó theo ý vua mình, đời sau lại tô trát thêm vôi vữa lên, cho thành dung mạo 4.000 năm văn hiến An Nam.
Bộ Đại Việt Sử Ký (1272) triều Trần được bắt đầu bởi Triệu Đà và kết thúc vào lúc Lý Chiêu hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Suốt thời gian dài hơn 180 năm, nó cứ thế nằm im, ít ai biết đến. Thế rồi đến triều Lê thì các vì vua tỏ ra đặc biệt hứng thú với lịch sử, bắt đầu tìm cách đóng dấu ấn của mình lên đó. Vào 1455, Lê Bang Cơ (Nhân tông) sai Phan Phu Tiên lôi bộ sử ra, chép thêm giai đoạn từ Trần Thái tông cho đến khi quân Minh rút về nước. Lúc này (1455), bộ quốc sử vẫn mang tên Đại Việt Sử Ký.
Một phần tư thế kỷ sau, năm 1479, Lê Hạo (Lê Thánh tôn) sai Ngô Sĩ Liên chỉnh lý lần nữa. Đến đây, bộ sử có thêm họ Hồng Bàng với 18 đời Hùng vương, đổi tên thành Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt là Toàn thư).
30 năm sau, vào 1511, đến phiên Lê Trừu (Tương Dực đế) sai Vũ Quỳnh tiếp tục chỉnh lý, và đổi tên thành Đại Việt Thông Giám Thông Khảo (gọi tắt Thông giám).
Rồi 150 năm sau nữa, Duy Vũ (Lê Huyền tông) lại sai Phạm Công Trứ tiếp tục công trình chỉnh lý, chép thêm việc nước trong 13 năm (1663-1675) của triều đại mình vào, và gọi đó là Đại Việt Sử Ký Tục Biên. Đây cũng là lần tu sửa cuối cùng; bởi sau đó, nhà Nguyễn sẽ cho soạn bộ quốc sử riêng của mình, không chung đụng với lịch sử bọn Bắc kỳ[2].

SỰ “THẤT LẠC” CỦA QUỐC SỬ

Về tăm tích bộ quốc sử đầu tiên Đại Việt Sử Ký, các sử gia An Nam thường dẫn Văn Tịch Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú để đổ thừa rằng sách bị nhà Minh cướp mang về Tàu.
Điểm qua danh mục các sách được cho là bị Minh cướp đi[3], ta thấy số lượng sách quả là ít ỏi, mỗi đầu sách chỉ có 1 bản. Ở An Nam, nghề in khắc mộc bản đã xuất hiện từ cuối triều Lý, nhưng sách của hoàng thất được kể là bí mật quốc gia, không phổ biến ra ngoài, nên chỉ được lưu trữ một, hai bản chép tay, và cất kỹ trong bí các. Thành thử trách người một phải trách ta mười: là do bọn vua chúa muốn giữ sách vở làm của riêng nên mới phải dễ dàng cụt vốn đến vậy.
Nhưng điều đáng lưu ý là số phận bộ Đại Việt sử ký, có thật nó bị Minh cướp đi hay không? Nếu vậy, tại sao các bộ sử sau đó vẫn chép lại được những lời bình của Lê Văn Hưu? Câu trả lời nằm ở cung cách “biên soạn” quốc sử của An Nam: cứ đời sau “chỉnh lý” đời trước, chỉnh lý xong thì lấy bộ sử của mình làm chuẩn mực, bộ của tiền triều mặc nhiên bị mất đi tính chính thống đã có trước đó. Đại Việt Sử Ký sở dĩ thất truyền chính vì lẽ đó, giặc Minh chỉ là cái cớ các sử gia An Nam mượn để vu vạ mà thôi.

SỰ GIÃN NỞ CỦA LỊCH SỬ AN NAM

Vũ trụ giãn nở làm sao thì lịch sử An Nam giản nở y chang vậy. Ban đầu, Lê Văn Hưu lấy Triệu Đà làm mốc khởi điểm cho lịch sử Đại Việt đã là sự bắt quàng lố bịch, cốt để cho nước mình có hơi hướm của Tàu[4]. Đến Ngô Sĩ Liên thì mốc thời gian đó được đẩy lùi thêm 26 thế kỷ, để được tự xưng văn hiến Nam bang cũng ngang ngửa với thiên triều, ít ra cũng ở cái tuổi.
Trong những câu chuyện thần thoại quả có phần nào mang trong đó ký ức của dân tộc, nhưng với những thần thoại của An Nam thì phải cảnh giác: chúng thường vay mượn từ các điển cố thư tịch Trung Hoa. Ngay mấy dòng đầu bộ Toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã bê nguyên cốt chuyện của tiểu thuyết Tàu để xây dựng hình tượng thủy tổ tộc An Nam:
“Kinh Dương vương tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. (…) Vua lấy con gái Động Đình quân tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long quân (Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)” (Toàn thư, Ngoại kỷ, q.1, Hồng Bàng thị, t.1b).
Câu chuyện Lộc Tục lấy con gái Hà bá hồ Động Đình đó chính là chuyển thể từ “Liễu Nghị truyện” của Lý Triều Uy, một nhà văn đời Đường (776-820)[5].
Vậy là bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, tộc An Nam đã sinh thành tổ tiên cho mình. Công tạo hóa huyền cơ ấy là của Ngô Sĩ Liên, ông đã khéo chế biến cuốn tiểu thuyết của Tàu để cho ra một ông tổ Bắc Việt cưới vợ khác loài, đẻ được trăm trứng, từ đó tăng thêm ý vị đậm đà cho hai chữ “đồng bào” của dòng giống Rồng Tiên xàm xí mứng.
Đương thời, trong tác phẩm “Việt sử tiêu án”, Ngô Thì Sĩ từng công kích ông sử gia cùng họ về việc tiểu thuyết hóa lịch sử này. Sinh thời, nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cũng liên tục phê phán việc nhận quốc tổ cà chớn: “Cái nguồn gốc xưa cũ 4.000 năm đó là của các ông nhà nho chắp nối mớ sách vở các ông đọc được với phần nghe ngóng về cái đền Hùng vương ở xứ sở các ông, đem lập ra một tông phả không kể gì đến sự bình thường của luận lý, quên cả sự nhờ cậy để đến ngày nay người ta mỉa mai là bám víu trèo cao. Nhưng đó cũng được coi là sự bình thường của lịch sử, nên Ngô Sĩ Liên đưa vào quyển quốc sử, trở thành chân lý của muôn đời”[6]. Thậm chí trong diễn từ nhận giải Phan Châu Trinh năm 2014, ông cho cái Quốc hội đã quyết định lấy mùng 10 tháng Ba âm lịch làm ngày nghỉ lễ[7] là ngu dốt.
Xén tiền của doanh nghiệp để trao tặng cho người lao động toàn quốc thêm một ngày nghỉ lễ, đó là công nghiệp vĩ đại và có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của ngài Nguyễn Phú Trọng. Mà thật ra, bọn cầm quyền có ngu đâu mà tin ở cái thứ tổ tiên tào lao bí đao đó, chẳng qua hình tượng 18 vua Hùng đối với họ có ý nghĩa cực trọng – đó chẳng phải là một tập thể cùng được làm vua đó sao?

~~~~~~~~~~~~

[1] Giám tu 監脩: chức quan tạm thời, được đặt ra để giám sát quá trình thực hiện một hạng mục công trình nào đó cho đến khi công trình nó hoàn thành. Ở đây, Lê Văn Hưu là Học sĩ của viện Hàn lâm được kiêm cử làm chủ biên bộ quốc sử, khi biên xong bộ đó cũng là lúc chấm dứt nhiệm vụ. “Giám tu” không phải chức vụ đứng đầu Quốc sử viện như các “sử gia” An Nam sau này giải thích.
[2] Tức bộ Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán thời Minh Mạng và Thiệu Trị biên soạn trong gần 90 năm (1821-1909), chép các sự kiện từ 9 đời chúa Nguyễn cho đến đời vua Khải Định (từ 1558-1925). Bộ này gọi tắt là “Thực lục”; bởi triều Nguyễn được Bắc Việt đánh giá là “ngụy triều”, nên Thực lục cũng không được các sử gia Bắc Việt quan tâm.
[3] Theo Văn tịch chí, các sách quý hiếm của An Nam bị Minh cuỗm về Tàu làm của báu gồm:
– Lý Thái tông: Hình thư, 3 quyển
– Trần Thái tông: Quốc triều thông lễ, 10 quyển. Hình luật, 1 quyển. Kiến trung thường lễ, 1 quyển. Khóa hư tập, 1 quyển. Ngự thi, 1 quyển.
– Trần Thánh tông: Di hậu lục, 2 quyển. Cơ cừu lục, 1 quyển. Ngự thi, 1 quyển.
– Trần Dụ tông: Trần Triều đại điển, 2 quyển.
– Trần Nhân tông: Trung Hưng thực lục, 1 quyển. Thi tập, 1 quyển.
– Trần Minh tông: Thi tập, 1 quyển.
– Trần Anh tông: Thủy vân tùy bút, 2 quyển.
– Trần Nghệ tông: Bảo Hòa điện dư bút, 8 quyển. Thi tập, 1 quyển.
– Trần Quốc Tuấn: Vạn Kiếp bí truyền, 1 quyển. Binh thư yếu lược, 1 quyển.
– Chu Văn An: Tứ thư thuyết ước, 1 bộ. Tiều Ẩn thi, 1 tập.
– Trần Quốc Toại: Sầm lâu tập, 1 quyển.
– Trần Quang Khải: Lạc Đạo tập, 1 quyển.
– Trần Nguyên Đán: Băng Hồ thác tập, 1 quyển.
– Nguyễn Trung Ngạn: Giới Hiên thi tập, 1 quyển.
– Phạm Sư Mạnh: Hiệp thạch tập, 1 quyển.
– Trần Nguyên Đào: Cúc Đường di cảo, 2 quyển.
– Hồ Tông Thốc: Thảo nhàn hiên tần, 1 quyển. Việt Nam thế chí, 1 bộ. Việt sử cương mục, 1 bộ.
– Lê Văn Hưu: ĐẠI VIỆT SỬ KÝ, 1 bộ (Lịch triều hiến chương loại chí ghi “Đại Việt sử ký, 1 quyển”; Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì ghi “Đại Việt sử ký 30 quyển”. Do bộ sử gồm 30 quyển, nên ở đây gọi là 1 bộ).
– Nguyễn Phi Khanh: Nhị Khê thi tập, 1 quyển.
– Hàn Thuyên: Phi sa tập, 1 quyển.
– Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh tập, 1 quyển.
[4] Về Triệu Đà, sẽ bàn ở bài viết khác.
[5] Tóm tắt “Liễu Nghị truyện”: Liễu Nghị đi thi bị trượt, trên đường về thì gặp một thiếu phụ xinh đẹp. Nàng ta cho biết mình là con gái của Long vương cai quản hồ Động Đình, đã thành thân với con trai của Kinh Xuyên, nhưng bị chồng bạc đãi, bắt phải chăn dê. Cô Long nữ này nhờ Liễu Nghị báo dùm cha mình, để tố cáo hoàn cảnh khốn khổ đang phải chịu. Liễu Nghị bèn giúp đưa thư tới thủy phủ Động Đình. Nhà Hà bá nổi giận, giết con rể. Sau, Liễu Nghị cưới nàng Long nữ ấy. Hai vợ chồng đều thành tiên.
Câu chuyện Liễu Nghị lấy vợ này được các kịch tác gia đời Tống soạn thành tuồng, rất được người xem tán thưởng. nhờ đó, nó lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
[6] “Để vào đâu?” bài viết cuối cùng của Tạ Chí Đại Trường.
[7] Ngày 02/4/2007, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng ký sửa đổi bổ sung Điều 73 Luật lao động, cho người lao động thêm được 1 ngày nghỉ làm việc hưởng nguyên lương vào “giỗ tổ” mùng 10 tháng 3 âm lịch.

Lê Vinh Huy

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | %(count) bình luận

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: