Posts Tagged With: Nguyễn Văn Hiệu

Buôn có bạn, bán có phường


Kình Văn : […] Bả làm chính trị mười năm nay nhưng không ai bỏ tù được, là vì bả có bàn tay sạch (không nhận tiền bố thí), nhưng bật mí (và có thể cậu biết) […]. Nói chung, là một dạng cơ hội chính trị sạch sẽ.

Quốc Anh : Vụ này tớ có nghe đồn rồi, nhưng đó là đời tư của người ta, tớ chả cần để ý. Còn cái stt kia tớ thành thực chỉ nói về bài học tự rút ra, nhưng có lẽ người ta luận ra thành cái gì đó.

Kình Văn : […] Tớ không bàn status, mà là comment của đám trẻ nghé.

Quốc Anh : Cmt đám đó thì chống cộng hay cuồng cộng đều có phong cách như nhau : Dấm dớ, mù tịt và tếu táo rởm.

Kình Văn : […] Tớ cũng nói bóng gió còn gì, là tụi nó sợ [và muốn tránh] chính trị nhưng lậm chính trị khủng khiếp, hễ cái gì can hệ lịch sử là y rằng suy tưởng chính trị. Cốt vì lịch sử là con đẻ của chính trị và tín ngưỡng. […]

Quốc Anh : Mặc dù cái stt của tớ không chủ đích nhắm vào vụ mấy nhà dân chủ, nhưng tớ vẫn thấy cái quy luật trong đó không sai. Nhân dân cho anh niềm tin hay khối óc mà chẳng cho tiền thì chứng tỏ họ cũng cóc tin anh, và anh không vĩ đại như chính anh tưởng, nên biết chấp nhận mình là ai hơn là thể hiện ta đây.

Kình Văn : […] Đấy gọi sự thực dụng trong hành vi chính trị. “Chuyến” đi tù của bà Quỳnh không hơn gì một giao dịch thương mại, bả tự nguyện. Mà tớ kể thêm, mấy ông bà trùm Việt Tân không hề bị cấm về Việt Nam nha, thậm chí ông Hoàng Cơ Định toàn ghé nhà ông anh họ vốn là đại tá quân đội nhân dân. Họ Hoàng Đông Ngạc lớn lắm, bên này bên kia đều có vai.

Quốc Anh : Thì bản chất mọi vấn đề quanh những phong trào dân chủ bao năm nay có khác gì giao dịch thương mại đâu. Tôi bán cho anh cái gọi “hi vọng”, “lý tưởng”, “công bằng”, hay ít nhất là sự thỏa mãn kiểu “Cống Quỳnh xỏ Chúa”… đổi lại, anh trả tôi những cái như “lương tri”, “cảm giác vĩ đại”, “niềm tin”, “khối óc”… Cơ mà trong cuộc giao dịch kiểu này tiền lại ít xuất hiện, hoặc là họ không đủ khả năng khiến người ta thanh toán bằng tiền. Khốn nạn một chỗ, chính tiền lại là thứ giúp mấy trào lưu dân chủ có sức mạnh hay cơ hội thành công.

Kình Văn : Chính trị và kinh tế là anh em ruột, tớ cho là vậy !

Quốc Anh : Nam Cao trong Chí Phèo có câu rất hay, đại ý : Mấy người coi vườn bách thú hay nói hổ cũng hiền như mèo. Chí Phèo khiến cả làng Vũ Đại sợ, và ghê, duy có Thị Nở thì còn hay vào hẳn lều xin mồi lửa. Việt Tân cũng kiểu đó !

Kình Văn : Ở hải ngoại có câu châm ngôn “Việt Tân là em Việt Cộng”…

Quốc Anh : 😝

Kình Văn : … nhưng tớ lại cho rằng nên mở rộng vấn đề đó : Chính trị có bản chất là tư lợi.

Quốc Anh : Không phải ! Không phải chính trị có bản chất là tư lợi, mà con người có bản chất đã là tư lợi. Như Tuân Tử nói : Chính trị do con người tạo ra.

Kình Văn : Hai bức ảnh sáng nay tớ tặng cậu là ông Nguyễn Thái Học và ông Phó Đức Chính.

Quốc Anh : Ảnh trái tớ nhận ra, phải thì chưa.

Kình Văn : Thế hệ Yên Báy có thể coi là… còn “sạch sẽ”…

Quốc Anh : Và thế nên họ thất bại.

Kình Văn : … nhưng sau đó thì cũng giành giật nhau vì lợi ích. Sau khi ông Nguyễn Thái Học mất, ông Nhất Linh được mặc định là “lãnh tụ kế nghiệp”, nhưng ổng lại là con buôn chính trị và học-nghệ thuật thượng thặng. Đấy là nhận xét của thằng bạn tớ trên cương vị viện sĩ Hán Nôm.

Quốc Anh : Con buôn trong chính trị ? Sao tớ lại thấy truyện này quá bình thường nhỉ ?

Kình Văn : Bình thường với người chăm nghe tin đa chiều, nhưng là bất thường với đám trẻ trâu như Đại Đạo Trảm Phong.

Quốc Anh : Không phải chỉ trẻ trâu đâu ! 😏

Advertisements
Categories: ☺☺ Thời đàm | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngụy thuyết


Quốc Anh : Nè, lúc nãy tớ vừa lượn qua blog của Trương Thái Du, xuôi xuống mấy bài viết hồi năm 2014. Tớ mò được mấy lỗi sai về nguồn sử liệu của ổng, đang định comment vào Face ổng để phản biện, nhưng cuối cùng lại thôi. Vì vặn nhau về độ xác thực của các loại sử liệu từ thời Tiên Tần thì đúng như rút dao chém nước. 😦

Kình Văn : He-he, về lý thuyết là không còn sách vở Tiên Tần, cho nên dẫu có thấy thì chúng chỉ được coi là nguồn tham chiếu. Ví như những thẻ tre trong mộ Ngụy nói rằng vua Ngu bị vua Thuấn truất ấy, chỉ được coi là phiên bản khác của truyện Ngu Thuấn.

Trúc thư kỷ niên (竹書紀年) là một cuốn biên niên sử Trung Hoa cổ đại, được các nhà sử học đánh giá là nguồn tham khảo bổ sung, đối chiếu và đính chính cho một số sự kiện lịch sử Tiên Tần. Nguyên bản được chôn cùng Ngụy Tương vương (mất năm 296 TCN) ở Cấp huyện và được phát hiện vào năm 281 triều Tấn Vũ đế. Vì lý do này, cuốn biên niên sử tồn tại được sau vụ phần thư khanh nho của Tần Thủy hoàng. Cùng Sử Ký, trứ tác này là một trong những cổ thư quan trọng nhất về Trung Hoa hồi sơ khai. Qua chỉnh lý và nghiên cứu, các học giả thời cổ cho rằng đây là sách sử của nước Ngụy thời Chiến Quốc, lấy mốc từ huyền thoại Hoàng Đế đến năm 299 TCN.

Quốc Anh : Thế nên mới nói, tranh cãi dựa vào nguồn tài liệu có tính chất hư vô cao thì đều là đấm vào bị bông. Chả khác gì các nhà thần học ngày xưa cãi xem lạc đà có qua được lỗ kim hay không.

Kình Văn : Thật ra, vấn đề ngụy thuyết này người Âu châu trung đại và cả chính người Việt thời Nguyễn về trước đã có cách xử trí cho hợp lẽ tự nhiên rồi. Cho nên tớ mới nói, chế độ Việt Nam Cộng hòa đã kế thừa tinh hoa hai nền văn hóa Đông-Tây và cả gầy dựng được nền khoa học rất đỗi nghiêm túc.

Quốc Anh : Tớ còn nhớ hồi còn đi học, thầy tớ từng nói ngụy thuyết cũng là một phần tất yếu của lịch sử cũng như của mọi khoa học.

Kình Văn : Cậu hiểu gần sát điều tớ muốn nói rồi. Ngụy thuyết thường rất hấp dẫn, nhất là với người ngu. Tớ nói, sáng nay cậu lên phố sách bằng ngựa sắt sẽ thú hơn là nói “cái xe máy”. Đấy là ngụy thuyết – một dạng của văn chương. 😄

Quốc Anh : À hiểu rồi ! 🙂

Kình Văn : Cho nên, việc công nhận sách Tạ Chí Đại Trường như một hệ thống công trình nghiên cứu nghiêm túc của chính quyền cộng sản, tớ cho là tai hại. Vì chính điều đó đẻ ra đám lyhocdongphuong, Trương Thái Du sau này. Trong khi thời Cộng Hòa, sách của ông ấy chỉ được coi là văn phẩm.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Flute sonata


Tối qua vừa có giấc mơ không biết gọi là đẹp hay dữ, cậu ạ.

Tớ thấy Ly Hương đứng trên sân khấu Nhà Hát Lớn chơi flute, nàng mặc cái váy màu xanh da trời mà đuôi váy rất dài, dài lắm luôn, dưới hàng ghế khán giả chả có ai ngoài tớ xem, chỉ tớ với cô ấy.

Chơi được nửa bản thì bỗng nàng buông flute rồi cười điên dại. Sau rồi nàng nhún mình một cái bay vọt lên, cái đuôi váy phất phơ như đuôi con phượng hoàng ấy, tớ vội bật dậy chạy theo, bám được vào đuôi váy cô ấy. Cô ấy cứ thế lao vút lên trần nhà, tớ tưởng cả hai sẽ va vào đấy, nhưng trần tự nhiên mở toang ra một cái lỗ tròn. Ly Hương bay vụt lên bầu trời, bên ngoài lại là đêm hè với trăng sáng rực và trời đầy sao. Cứ bay vù vù như thế, tớ vẫn bám đuôi váy, một lát cô ấy lại đưa flute ra thổi tiếp, vẫn là flute sonata cung Mi Trưởng của Bach lúc nãy.

Tớ muốn nghe rõ hơn nên bám đuôi váy trèo dần lên, đến khi ôm được cái eo thon của nàng mới dừng, tiếng flute nghe rõ mồn một, gió mát rượi, thật vui không thể tả. Nhưng đột nhiên nàng lại dừng tiếng flute rồi quay lại nhìn tớ mỉm cười, bỗng nhiên tớ thấy tay mình lạnh toát, trơn tuột, không thể nào nắm chặt được eo Ly Hương nữa. Rồi tớ cứ tuột dần, tuột dần xuống dù cố bám thế nào chăng nữa, cuối cùng rơi vèo xuống, lúc đó tiếng flute lại vang lên, tớ rơi vòng vòng trên không trung trong tiếng flute rõ mồn một bên tai.

Lúc đó cả người tớ bắt đầu lạnh toát, cực kỳ lạnh… nhưng bên tai vẫn cứ văng vẳng tiếng flute của Ly Hương.

Choàng tỉnh dậy thì người vừa ướt đẫm mồ hôi, vừa lạnh toát, hóa ra vì tớ ngã từ trên giường xuống sàn nên mới thấy lạnh thế. 😄

Tiên sư giấc mơ ! 😑

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

Categories: ☺☺ Tạp thoại | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ông Phạm Tùng Niên


Mình xin có chút thắc mắc thế này, sáng nay học môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam trên lớp, thầy giáo mình có nhắc tới việc Phạm Đình Hổ là nhà văn hóa lớn của nước ta thế kỷ XVIII, nhưng ông cũng có rất nhiều điều tiếng xấu đương thời, đặc biệt là khi làm quan nhà Nguyễn. Nhưng mình chỉ thấy các tài liệu nói Phạm Đình Hổ là nhà nho mẫu mực chứ không thấy thông tin về điều tiếng xấu gì của ông. Vậy mình hỏi xem điều này có thực hay không, và nếu là thực thì cho mình xin chút thông tin được chứ ?

Quốc Anh : Thầy bạn nói vừa đúng vừa không. Cơ mà trước nhất mình muốn hỏi, bạn nói rằng cụ Tùng Niên theo như bạn biết là nhà nho mẫu mực, thế thì tiêu chuẩn hoặc biểu hiện nào là mẫu mực của một nhà nho (ít nhất là theo bạn). Cũng nên trình bày cái đó ra để định hướng vấn đề. 😊

► Khiếp, sao bác lần nào cũng phải vặn vẹo hắc xì dầu thế ! 😂

Không phải mình cố ý làm khó bạn, cái này người ta nói là tư duy biện chứng, nó cần trong mọi vấn đề và liên quan tới cái bạn hỏi. Nếu chính bạn không hiểu và trình bày nổi điều mình phát ngôn thì người khác cũng không thể trả lời rõ cho bạn được, và có đáp thì e là bạn có thể cũng không hiểu.

► À thì chỉ nghĩ đơn giản là mẫu mực ở đây nghĩa là em thấy Phạm Đình Hổ không có tai tiếng gì (ít nhất như em biết), chăm chỉ học tập, miệt mài nghiên cứu, có hiếu với cha mẹ. Đây chỉ là nhận thức đơn giản có phần dốt của em, mong bác lượng thứ cho, em không có ý gì cả. 😂😂😂😂😂😂 Bác xá cho em nếu em trót nói ngu 😢😢😢😢

Quốc Anh : Ô hay, làm gì mà nghiêm trọng thế ? 😅 relax, relax 😄

Nay mình trả lời bạn Trần Văn Nghĩa.

Thầy giáo bạn có nhắc việc Phạm Đình Hổ, là nhà văn hóa lớn của An Nam thế kỷ XVIII, nhưng đương thời cũng có tiếng xấu, thậm chí nghiêm trọng, khác hẳn với hình ảnh ta thường được biết về cụ. Thế mình mới đáp là thầy bạn nói vừa đúng vừa không.

1. Đúng ở chỗ, con người sống ở trên đời không ai hoàn hảo, ai cũng có lúc tốt lúc xấu, tiếng tăm người ta để lại ở đời theo đó cũng có tiếng tốt tiếng xấu, nhà nho và cả bậc đại nho cũng không ngoại lệ. Đúng nữa là vì các tài liệu lịch sử có nhắc tới tiếng xấu của Phạm Đình Hổ thực.

2. Còn nói cũng có chỗ không đúng, là vì các tài liệu chưa bảo đảm được độ xác thực. Tiếng xấu của Phạm Đình Hổ được ghi lại ở hai tài liệu Quốc sử di biên (國史遺編) và Đại Nam thực lục (大南寔錄). Quốc sử di biên ghi được khá nhiều thông tin, nhưng “di biên” đúng như cái tên, vốn là thể loại nhằm sưu tầm các việc mang tính đồn đãi ; vì thế, chưa thể coi các điều trong đó là hoàn toàn đáng tin, chỉ có thể tạm coi là sự tham khảo. Đại Nam thực lục thì ghi được một việc có liên đới Phạm Đình Hổ ; nhưng xét ra, Thực lục thuộc thể loại chính sử và sẵn có uy tín của triều Nguyễn, điều trong đó đáng tin hơn hẳn và nhiều khả năng thực.

Cụ Phạm phải đường khoa hoạn khó khăn, đỗ không cao, từng thi trượt nhiều bận, nên khi ra làm quan nhà Nguyễn thường bị đồng liêu dè bỉu, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đến cả tai vua. Việc ấy nằm trong Đại-nam thực-lục chi Thánh-tổ Nhơn hoàng-đế, đệ nhị kỷ, quyển 105.

◆ Quốc Tử giám Thự tế tửu [1] Phạm Đình Hổ, Tư nghiệp Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu làm việc không hiệp nhau. Vua nghe biết, dụ bộ Lễ rằng : “Thành Quân quán là nơi đầu cho phong hóa, mô phạm quan hệ đều ở đó cả. Nhà nước đặt ra tế tửu, tư nghiệp cốt là để dìu dắt sĩ tử mở rộng văn trị, thế mà bọn kia nhiều việc lủng củng, dạy dỗ thưa thớt, nhân tài ít được tiến ích, thực phụ lòng ta. Hạ lệnh chúng tâu thật minh bạch !“. Đến khi sớ dâng lên để luận tội, Hổ lại nói chêm rằng : “Học thức thô sơ, khoa mục không cao, vẫn bị bạn đồng nghiệp trêu chọc. Nay tuổi già mờ tối, ý nghĩa sách vở ngày một quên lẫn, sợ sức trái với lòng, chỉ thêm tội lỗi, xin từ việc Giám về hầu ở bộ“. Vua dụ rằng : “Phạm Đình Hổ xuất thân học trò, trẫm thấy văn học tài giỏi, cho nên cất nhắc vượt bậc. Phạm Đình Thuận và Nguyễn Huy Hựu đều là khoa bảng xuất thân, làm việc lâu ngày, giao cho chức trách lo việc giáo dục, thế mà không biết kính mến nhau, gắng gỏi cho xứng chức vụ, lại lấy ranh giới coi nhau đến nỗi chẳng để tâm vào chức vụ, tư cách làm thầy như thế thì học trò biết nhìn vào đâu ? Nay sức hỏi tâu đáp thì Hổ còn lấy việc bị đồng nghiệp trêu chọc mà tự thác, Thuân và Hựu thì đều nói hàm hồ, đều không phải cả. Đáng lẽ cần giao cho bộ nghiêm bàn, nhưng nghĩ là do mờ tối, hãy tạm trừng trị qua loa. Vả chăng lời Hổ cũng thành khẩn, y lại là người ngay thẳng, nếu cho làm việc quan thì khó thành hiệu. Vậy chuẩn cho thôi việc Giám, vẫn lui về nguyên hàm Hàn Lâm viện Thừa chỉ, giáng hai cấp, bọn Thuận và Hựu cũng giáng hai cấp“.

Trong Quốc sử di biên có chép rằng Phạm Đình Hổ là người ương bướng nên gây ra một số tai tiếng sau :

◆ Thự Tế tửu Phạm Đình Hổ xin từ chức, Hổ là người trực tính, giáo pháp nghiêm cẩn, học trò nếu trước đã bái sư người khác mà nay đến xin học đều không cho nhập môn. Bấy giờ đang ở Giám, có vị công tử ra xin học, ông rút guốc ném. Vị kia cãi lại : “Nếu đánh roi thì còn là hình phạt trong khi dạy học, nay thầy lấy guốc ném tôi là thể thống gì ?“. Liền lấy guốc của mình ném lại Hổ, rồi nói tiếp : “Thầy không phải bậc đại khoa, không đủ làm mực thước dạy người“. Hổ thẹn quá, dâng biểu lên xin về Bắc Thành dưỡng bệnh, vua ban cho 100 quan tiền.

◆ Khi Hổ ở Bắc Thành, gặp kỳ thi Hương, con ông ta làm văn hộ người khác, việc vỡ lở, bị giáo thụ Hoài Đức nọc ra đánh roi. Hổ giận mắng : “Ta hận nỗi không làm được đại quan thôi, chứ còn như đám giáo thụ kia thì môn đồ ta có khối“. Người đời cho là ông quá quắt.

◆ Có viên Cẩm Y vệ giở trò vòi tiền nhà Hổ không được, liền ra đường nói hỗn, bị Hổ đánh cho chảy máu. Viên Cẩm Y ngã lăn ra đất, Hổ liền lấy nồi đồng treo vào người vu cho tội ăn trộm giữa ban ngày, làm bản cáo trạng tố lên Hình tào Nghi. Có lệnh xuống, sai truyền Tri phủ Diễm xét án. Diễm đến xử, chỉ bắt tội Hổ khi quân, nói rằng : “Hoàng thượng nhiều lần hạ chiếu triệu ông, ông lấy cớ vì bị bệnh yếu để từ chối. Thế mà nay đang bệnh nặng, ông lại còn đánh ngã bất tỉnh được người khỏe mạnh, thế thì ai là kẻ khỏe đây ?“. Hổ giận và đuối lý, đập đầu xuống bàn. Diễm bật cười nói : “Dù ông có tháo khăn mà đập vỡ đầu cũng chả vu được cho ta cái tội bức tử, huống hồ giờ đầu ông vẫn còn quấn khăn thì đập vào bàn cũng phương hại được nỗi gì“. Rồi hạ lệnh bắt trói viên Cẩm Y cùng chứng cứ, lập án trạng xong, bảo với Hổ : “Ông có quan phẩm, lại được hoàng thượng trọng dụng, hình tào Bắc Thành không dám xét xử, cần chờ làm sớ tâu lên để định đoạt, sự thể phải như vậy“. Hổ sợ, cố xin giảng hòa [với viên Cẩm Y], nên được miễn thứ. Khi Hổ được phục chức, thường qua lại tự do ở công đường lục bộ [2], ngự sử đề tấu việc đó lên với vua. Vua tha cho, miễn nghị tội và nói : “Hiểu biết, rèn luyện rồi du chơi, nghỉ ngơi ; đấy vốn là bản sắc của kẻ thức giả” . Có viên nhậm tử nọ ở Bối Khê từng chê Hổ rằng : “Ông nổi tiếng là kẻ có văn học, được hoàng thượng trọng dụng, thế mà ngôn động lại sai trái. Bị trong triều ngoài nội đàm tiếu, chỉ riêng ông là không biết hối chăng ?“.

Trên đây là phần trả lời của mình, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người bỏ qua và góp ý !

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Chức vụ về nghi lễ triều đình cũng là chức vụ dạy học tại Quốc Tử giám ngày trước, coi như vị “hiệu trưởng” của trường này.

[2] Theo phép tắc của nhà Nguyễn, quan lại các cấp nếu không có phận sự thì không được phép đi lại tự tiện ở công đường các bộ.

Categories: ❀❀ Nhân vật chí | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sự đãi ngộ quan chức thuở xưa thế nào ?


Mình xin phép hỏi một câu hơi “thiếu muối” một chút, hôm qua mình đọc được tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống về thời Nguyễn. Có đoạn tác giả cho nhân vật (là quan chức tham nhũng), bao biện cho hành vi của mình, đại ý rằng, quan lại thời Nguyễn mà nếu chỉ dựa vào bổng lộc triều đình ban thì sống rất chật vật, muốn thanh liêm cũng khó. Dĩ nhiên dựa vào tiểu thuyết mà bàn lịch sử thì là vô lý, nhưng mình vẫn muốn biết cái việc chỉ dựa vào lương là khó sống của các quan thời Nguyễn có thực không ?

Thạch Trung : Chả liên quan lắm, nhưng luật thời Nguyễn khá tiến bộ và nghiêm. Năm 1822, dưới triều vua Minh Mệnh, tại Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai nên gạo đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc để bán cho dân. Người quản kho thóc ở kinh là Đặng Văn Khuê được lệnh phát chẩn cho dân, nhưng mỗi hộc lại thiếu một ít. Việc bị phát giác, vua sai bộ Hình tra xét, án xong tâu lên thì vua liền ra lệnh chém. Trong sách ‘Đại Nam thực lục’ còn kể, vào tháng 5 năm 1823, một ông quan của Nội Vụ phủ tên Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng bị phát giác, bộ Hình đem ra xử án. Điều 229 của bộ luật triều Nguyễn có quy định : Kho của vua gọi là Nội Vụ phủ, ở trong cấm địa của hoàng thành, nếu lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu. Tuy nhiên, với Hữu Diệm, thay bằng tuyên án chém thì bộ Hình giảm xuống thành tội lưu đày. Án tâu lên, vua bảo rằng, ở thời vua trước cũng có một viên quan thông đồng với thợ bạc đúc trộm ấn giả để trộm đổi lấy ấn thật trong kho, những tên này đều bị chém ngay. Hữu Diệm dám công nhiên lấy trộm cả cân vàng, thì theo nhà vua trong mắt Diệm đã không còn pháp luật. Vua lệnh giải ngay Hữu Diệm đến chợ Đông Ba chém đầu để răn đe những người khác có ý định phạm tội.

Chính mình cũng từng thắc mắc việc này, nhưng không phải do xem tiểu thuyết mà vì đọc biên chép của cụ tổ mình từng làm quan thời Nguyễn. Để trả lời câu hỏi này cần biết được hai điều : Mức sống trung bình của thường dân thời Nguyễn quy ra tiền ; Các mức lương bổng của quan chức nhà Nguyễn.

Thứ nhất, về mức chi tiêu trung bình, rất tiếc trong phạm vi của mình chưa tìm được bất cứ tài liệu nào.

Thứ nhì, về lương bổng của quan lại nhà Nguyễn, ta có thể tìm được chút thông tin. Vấn đề ở chỗ, các mức lương không cố định trong suốt lịch sử nhà Nguyễn mà luôn thăng giảm tùy thời, chưa kể mức sống mỗi nơi, mỗi thời mỗi khác, gia cảnh mỗi quan lại cũng khác, cùng một mức lương bổng, ở chỗ này sống dư dật, chỗ khác lại khó khăn.

Đây là vấn đề khó nói mà tới tận giờ mình cũng chưa có kết luận trọn vẹn. Bởi thế, chỉ có thể cung cấp các thông tin và nhận định mang tính chất cục bộ cho bạn từ hướng cá nhân mình mà thôi, vì như đã nói trên điều bạn hỏi có tính chất đầy co giãn. Như trường hợp cụ mình, làm quan từ năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) tới năm Tự Đức thứ 21 (1869) thì nghỉ hưu, bảng lương quan lại trong thời điểm đó đại để :

◆ Chánh nhất phầm: Lương bổng các loại cộng lại 1 năm là 470 quan, 300 phương gạo. Như vậy trung bình (TB) mỗi tháng được gần 40 quan, 25 phương gạo.

◆ Tòng nhất phẩm: 360 quan, 250 phương gạo. TB tháng: 30 quan, hơn 20 phương gạo.

◆ Chánh nhị phẩm: 300 quan, 200 phương gạo. TB tháng: 25 quan, gần 16 phương 6 thăng gạo.

◆ Tòng nhị phẩm: 210 quan, 150 phương gạo. TB tháng: hơn 17 quan tiền, hơn 12 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tam phẩm: 170 quan, 120 phương gạo. TB tháng hơn 14 quan, 10 phương gạo.

◆ Tòng tam phẩm: 136 quan, 90 phương gạo. TB tháng hơn 11 quan, hơn 7 phương 5 thăng gạo.

◆ Chánh tứ phẩm: 94 quan, 60 phương gạo. TB tháng: gần 8 quan, 5 phương gạo.

◆ Tòng tứ phẩm: 70 quan, 50 phương gạo. TB tháng: gần 6 quan, hơn 4 phương 1 thăng gạo.

◆ Chánh ngũ phẩm: 49 quan, 25 phương gạo. TB tháng: 4 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng ngũ phẩm: 43 quan, 30 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, 2 phương 5 thăng gạo.

◆ Chính lục phẩm: 37 quan, 25 phương gạo. TB tháng: hơn 3 quan, hơn 2 phương gạo.

◆ Tòng lục phẩm: 31 quan, 22 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan; gần 1 phương 8 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng thất phẩm: 27 quan, 20 phương gạo. TB tháng: hơn 2 quan, gần 1 phương 6 thăng gạo.

◆ Chánh và tòng bát phẩm: 24 quan, 18 phương gạo. TB tháng: 2 quan, 1 phương gạo rưỡi.

◆ Chánh và tòng cửu phẩm: 22 quan, 16 phương gạo. TB tháng: gần 2 quan, 1 phương 3 thăng gạo.

Lưu ý, các chức cụ từng làm theo thứ tự là : Thư lại bút thiếp Tòng cửu phẩm – Tri huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Tòng lục phẩm – Kinh lịch tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – Giáo thụ phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định, Chánh thất phẩm – chức cuối cùng và cao nhất, là Đồng tri phủ Lý Nhân (cũng là quê cụ), tỉnh Hà Nội, Chánh lục phẩm, tuy nhiên, cụ chỉ làm được có ba năm thì bị bệnh phải xin về trí sĩ.

Cụ có viết lại trong tập tạp bút rằng : “… tôi mang ấn thụ, mặc phẩm bào hơn 20 năm, được như ông Nhữ Hiền [1] thì không dám nhận. Dẫu vậy, cũng đã cố hết sức giữ đức thanh thận, cần kiệm, tự xét thấy với triều đình, với đạo nghĩa, với dân tâm, chưa làm việc gì đáng hổ thẹn. Nhưng được thế, cũng là do trước kia thầy học luôn răn dạy nghiêm cẩn về cái lẽ đạo quân tử cốt trọng thanh bần. Gia dĩ, nhờ phúc ấm tổ tông, còn để cho dăm mẫu ruộng với nghề làm lụa, sau cùng, bà vợ già lại biết quản gia sự, khéo làm ăn, nên cảnh nhà không tới nỗi. Chứ nếu dựa cả vào bổng lộc khi cao nhất cũng chỉ hơn 3 quan tiền, 2 phương gạo của tôi mỗi tháng, thì trừ phi chịu cảnh phúc mỏng, đường hương hỏa hẹp [2], còn không, cả nhà 8 miệng ăn, thêm 2 cái túi da hứng tiền [3], thực là khó sống, khó liệu, nhất là đến những khi tháng 3 ngày 8 [4]. Lúc ấy, chả biết đức thanh liêm giữ nổi hay không ?…“, “Lão tiện nội (vợ cả) có lần từng đùa, giá ông làm được đến ông đốc một tỉnh [5], thành ra lương cao, thì cái thân mụ này đỡ phải vất vả chạy vạy, mà ông khéo cũng lập được đến mấy phòng [6], có cái tiếng phong lưu. Đằng này, người ta cho làm tri phủ trẻ ranh [7], giờ về hưu, gì mà chả nghèo ? Tôi nghe chỉ biết cười ha hả…“. 

Các điều cụ viết đã trăm năm có lẻ, dù thực hay không mình không kiểm chứng nổi và cũng không dám thắc mắc, mình cũng chỉ biết là sau này cụ mất cũng không để lại mấy tài sản, con cháu chỉ sàn sàn đủ ăn, không giàu nổi. Vậy ít nhất từ những cái mình thấy được, thì trước thời Pháp thuộc, các quan lại nhà Nguyễn nếu thực sự thanh liêm, hoàn toàn chỉ dựa vào lương bổng, không có nguồn thu khác (cả bất chính lẫn ngay thẳng) thì quan dưới ngũ phẩm có cuộc sống khá bấp bênh, do lương bổng hạn chế cộng với việc nhà đông con cái (cái này thì thời đó đừng nói là quan lại, cả nhà dân thường cũng đông nhân khẩu như thế thôi). Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không mấy khi có việc quan lại chỉ dựa vào một nguồn thu từ lương bổng, bao giờ ít nhất cũng có thêm một nguồn thu nữa, điển hình nhất là việc có nguồn thu từ canh tác nông nghiệp trên ruộng đất của gia đình, vậy nếu tính thêm khoản này thì các quan tối thiểu cũng đủ sống.

À mà bổ sung thêm, trong biên chép cụ còn kể, khi mới làm quan có nghe các huynh trưởng nhắc tới câu khẩu quyết nhập môn của nghề là “Thăng quan thượng kinh, phát tài hạ tỉnh” (Thăng quan lên kinh, phát tài xuống tỉnh). Nghĩa là nghề làm quan, nếu muốn nhanh thăng tiến thì nên nhậm chức trong kinh đô, làm kinh quan vì ở kinh đô ngay dưới chân thiên tử, hội tụ các cơ quan trung ương, quan chức lớn, tai mắt đều nhiều ; làm kinh quan dễ lọt được vào “mắt xanh” của cấp trên để từ đó thăng tiến. Còn nếu anh muốn kiếm cho đầy túi, thì nên xin bổ vào các chức quan ngoại nhiệm làm việc ở các tỉnh, vì như cụ Nam Cao nói “xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ“, làm quan ngoại nhiệm xa tầm kiểm soát của triều đình, có thể thẳng tay vơ vét.

Quốc-anh Nguyễn-Hiệu

❀ ❀ ❀ ❀ ❀

[1] Nhữ Hiền (汝贤) là biểu tự của Hải Thụy (海瑞, 1515 – 1587), vị quan nổi tiếng thanh liêm, chính trực thời Minh.

[2] Ý bảo, trừ phi nhà ít con cái thì mới sống được với chút tiền lương đó, xưa người ta quan niệm nhà đông con cháu thì là nhiều phúc, ít con cháu là phúc mỏng.

[3] 8 miệng ăn : 1 chồng, 2 vợ, 5 đứa con ; 2 cái túi da hứng tiền : 1 tớ giai và 1 tớ gái.

[4] Tháng 3 ngày 8 : Ý nói là vào khoảng vụ giáp hạt, thường thời điểm đó ngày xưa gạo thu hoạch được của vụ cũ đã cạn, nhưng chưa đến vụ thu hoạch mới, nên hay xảy ra nạn đói.

[5] Đốc học, trật chánh ngũ phẩm.

[6] Lấy thêm vợ lẽ, nàng hầu.

[7] Đồng tri phủ (同知府), trong đó chữ Đồng (同) đọc lên cùng âm với Đồng (童) nghĩa là trẻ con. Bản thân chức Đồng tri phủ cũng không phải cao, nắm quyền cả một phủ như chức tri phủ trật ngũ phẩm, mà chỉ là ở dạng cấp phó.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thiên-thời địa-lợi nhơn-hòa


Kình Văn : 天時地利人和 ~ Bành Lệ Viện đấy. Giọng liêu trai như này không làm chính trị được ! 😏

茫茫乾坤方圓幾何
長傳我千百年民族魂魄
舊日宮牆尋常巷陌
是誰把英雄的故事一說再說

走馬揚鞭翻山過河
輕生死重大義男兒本色
幾番起落風雨振作
趕他個天時地利與人和

走馬揚鞭翻山過河
輕生死重大義男兒本色
幾番起落風雨振作
趕他個天時地利與人和

Quốc Anh : Thì làm phu nhân của chính trị gia cũng được. Tập hoàng cũng khéo nhỉ : Biết thưởng trà, hiểu cổ nhạc, lấy vợ cũng là ca sĩ hát dân ca.

Kình Văn : Đấy là hình ảnh trên truyền thông thôi. 😞

Quốc Anh : Ừ, ai chả biết ! Chính trị gia mà.

Kình Văn : Bà Bành hồi 1980-90s là danh ca thượng hạng nên chọn chồng cũng phải con nhà danh giá chớ. Đám ca sĩ Hoa lục giờ hát quá tệ, không được cái vòm họng như ngày xưa.

Quốc Anh : Tớ xin phép chút, vừa đi trực đêm về đang ăn cơm dở. 😝

Kình Văn : Hic, xin san xẻ nỗi cực nhọc. Amin ! 😜

Categories: ☺☺ Tạp thoại | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ấu dâm, hay là Vẫn những kẻ chơi trò ngụy biện đạo đức


Quốc Anh : Khốn khổ, cố gắng nói lý giữa lúc người ta nóng đầu phiền quá ! 😔

Kình Văn : Bẩm, tớ coi rồi. Cậu rảnh quá !

Quốc Anh : Thực tâm thì thấy bài viết của cha Phúc Anh tớ đã muốn phản biện lại từ sáng rồi, nhưng mà không hề có đủ lý luận chắc chắn nên dù máu rất sôi tớ vấn phải nhịn tới giờ, ấy thế mà người khác đã lao vào đánh.

Kình Văn : Cậu nên rủ Fuck Ông ra quán café, hai thằng chửi nhau cho đã.

Quốc Anh : Tớ chả chửi ai bao giờ, chỉ tranh luận thôi, nhưng thực sự tớ cũng chưa có điểm nào để tranh luận lại được bài viết đó. Sao người ta nhạy cảm thế, có thể chụp mũ dễ vậy !?

Kình Văn : Kết giao với hắn đi, ít ra cậu có một người bạn chí tình để… cãi lộn. 😄

Quốc Anh : 😚 Vừa muốn phản biện bài gốc vừa muốn ngăn mấy quan điểm cực đoan chụp mũ bài viết gốc. Tớ chả biết làm thế nào cả ! 😒

Kình Văn : Đúng là trảm phong ! Cả thầy lẫn trò đều không tin điều mình nói, thế mà cũng tốn thời giờ còm-mèn.

Quốc Anh : Thôi đi ngủ cho lành, sáng mai còn phải đi kiếm tiền. 😀

Kình Văn : Nên thế ! Cậu cứ dây dưa với đám đó làm lụt hết kiến thức.

Quốc Anh : Bổ sung 1 chi tiết cho luận điểm 1, là Lý Chiêu Hoàng sinh đứa con đầu lòng là Thái Tử Trần Trịnh (Sau chết yểu) năm 1233, khi 15 tuổi. Vậy ít nhất độ tuổi QHTD của Trần Cảnh và LCH phải trong khoảng 13 – 14, đã ở trên mức 12 tuổi xét theo luật Hồng Đức. Cũng bổ sung 1 chi tiết nữa “Đại Minh Hội Điển” của nhà Minh bên TQ, quy định ở phần “Hình Bộ thư” nếu gian dâm với con gái dưới 12 bị xử tội từ giảo (thắt cổ) hoặc lưu, đến đánh 100 trượng, bị phạt tiền nặng. “Khâm Định Đại Thanh hội điển sự lệ” quy định gần như tương tự, nhưng nâng tuổi từ 12 lên 13, lại thêm một khoản là tội nhân có thể bị sung làm quan nô (Nô tì trong quan phủ) nếu xét thấy hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng. Các thời trước mình chưa có điều kiện tham khảo, nhưng tức là ở các nước Đông Á xưa tấn công TD trẻ chưa thành niên vẫn bị coi là tội hình sự.

Nguyễn Phúc Anh : Có một điểm đó là mình luôn dùng từ “ấu dâm” được đặt trong dấu ngoặc kép là để chỉ nó không phải được dùng với ý nghĩa và quan niệm bản địa về độ tuổi. Mình viết như vậy là khái niệm “ấu dâm” được dùng theo nghĩa hiện đại. Khi mình học ở anthropology of sexuality thì “ấu dâm” là để chỉ ham muốn tình dục với độ tuổi được coi là trẻ em. Định nghĩa của bạn về pedophilla có thể thấy trên wiki nhưng không phải là định nghĩa được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu về sexuality.

Magdalina Truồng : Bạn học Anthropology à? Chào đồng đạo, bạn tốt nghiệp ở đâu? Có thể trích định nghĩa gốc tiếng Anh từ các luận án mà bạn đọc?

Nguyễn Phúc Anh : Mình học anthropology ở Tokyo Metropolitan Uni và Harvard. Mình sẽ gửi bạn những tư liệu cần thiết. Giờ đang đi fieldwork chỉ với một cái cellphone 😊 trong thư viện nhân học mình có đưa toàn bộ course work và reading của môn Sexuality and Political Economy của giáo sư George Meiu năm 2016 của Harvard, mình trực tiếp học khoá này cùng giáo sư nên mình có nắm về mặt khái niệm. Có gì mình sẽ gửi bạn đường link cho courseword cùng reading khi có internet access cho computer của mình.

Magdalina Truồng : Nếu nói về cưới xin thì không chỉ văn hóa VN mà ngay cả phương Tây thời xưa cũng có tảo hôn. Đơn giản vì họ không coi việc kết hôn ngoài ý muốn là hiếp dâm. Dĩ nhiên còn quá bé như 12 tuổi thì người ta vẫn tránh kết hôn. Bạn Nguyen Phuc Anh viết lập lờ về “văn hóa truyền thống” (mà thực ra là do hạn chế về nhận thức) như vậy dễ gây hiểu nhầm là bào chữa cho hiếp dâm. Bạn gửi nhé, mình đọc xong sẽ nói tiếp.

► Với định nghĩa về khái niệm ấu dâm (1) trong bài của bạn thì mình nghĩ các dẫn chứng bạn đưa ra có sự mâu thuẫn, nhất là các dẫn chứng ở các triều đại phong kiến. Khi này, việc hôn nhân dưới tuổi dậy thì vẫn được công nhận, vậy khi này nó là một tập tục, nó không liên quan tới việc “có ham muốn tình dục với độ tuổi được coi là trẻ em”.Tính liên kết của sự “ham muốn tình dục” với các ví dụ của bạn thiếu sức thuyết phục. Trừ khi bạn chứng minh được sự xuất hiện của “ham muốn tình dục” trong các dẫn chứng bạn đưa ra. Điều đó dẫn tới việc nhiều người đọc khác sẽ bị hiểu nhầm rằng bạn đang đánh đồng khái niệm ấu dâm (2) của họ với những dẫn chứng trong lịch sử, từ đó suy diễn ra việc lấy “truyền thống” để bình thường hóa một hành vi phạm tội. Quay lại vấn đề thời sự, khi rõ ràng bạn hiểu rằng ấu dâm (1), của bạn đang nhắc đến, là khác so với định nghĩa về khái niệm ấu dâm (2) của đại chúng, hành vi người lớn lạm dụng tình dục trẻ nhỏ. Nếu đây là một đóng góp trong một hội thảo nghiên cứu thì mình tìm thấy rất nhiều điều thú vị ở đây cũng như sự nể phục với kiến thức của bạn. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, việc bạn đưa ra thông tin nhưng không thể đảm bảo sự nhất quán khi người khác tiếp nhận thông tin, do có sự chênh lệch về kiến thức, dễ dẫn tới sự định hướng sai lệch cho người đọc phổ thông. Đây là điều không nên xảy ra.

Nguyễn Phúc Anh : Do bởi khái niệm “ấu dâm” không tồn tại ở những triều đại này, nên mình phải viết nó vào ngoặc kép để nói về những hiện tượng tương tự trước khi “ấu dâm” bị coi là một vấn đề luật pháp. Nó là một hành vi phạm tội bình thường như bao hành vi phạm tội khác và nó cần được phán xét bằng lí tính pháp luật.

► Bạn nói tới “những hiện tượng tương tự”, chúng ta đều hiểu khái niệm “tương tự” ở đây có mức độ xê dịch tương đối lớn. Có chung 1 vài biểu hiện cũng có thể gọi là tương tự, chỉ khác duy nhất 1 biểu hiện cũng có thể gọi là tương tự. Do đó mình nghĩ việc bạn cố dẫn dắt các ví dụ từ “hành vi tình dục và hôn nhân” trong các giai đoạn lịch sử sang, để làm nó “tương tự” với khái niệm “ấu dâm” (1) của bạn là thiếu cơ sở. Mình nghĩ bạn nên làm rõ khái niệm của mình và tính thích đáng của các dẫn chứng khi bạn sử dụng để củng cố cho luận điểm. Còn đương nhiên, mình hoàn toàn đồng ý với việc ấu dâm(2) trước mắt pháp luật thì cũng chỉ là một hành vi phạm tội và cần được phán xét bằng pháp luật. Nhưng khi cái tình nó lớn hơn cái lý thì hành động con người thường để lại nhiều sai sót.

Nguyễn Phúc Anh : Vào thời trung đại, việc gian dâm và việc cưới xin rồi sau đó có quan hệ tình dục là hai thứ khác nhau. Mình sẽ phân tích rõ hơn từ văn bản gốc của Quốc triều hình luật. Nó rất khác với cách chúng ta nhìn nhận về ấu dâm bây giờ. Ở thời Hồng Đức, việc quan hệ bất chính với trẻ em dưới 12 thì hoàn toàn vi phạm pháp luật vốn dựa trên tiêu chuẩn phán xét của đạo đức nho giáo. Nhưng nếu cưới và sau đó quan hệ tình dục thì ko phải thuộc phạm trù gian dâm => chấp nhận được. Đây là lúc cần phải phân biệt câu chữ nguyên văn Hán văn và lớp văn hoá của câu chữ đó, ko nên chỉ nhìn bằng nhãn quan hiện đại trên bản dịch. […] Làm gì có cái gọi là “văn hoá truyền thống” mà lập lờ ~_~ viết để giễu mấy người suốt ngày quàng quạc về văn hoá truyền thống đấy mà. Truyền thống là thứ được invented, và “văn hoá truyền thống” cũng vậy.

► Vâng! đọc câu này mình mới biết là bạn đang giễu cơ đấy. 😄

Nguyễn Phúc Anh : Ừ. Nên kệ hiểu nhầm thôi. Ai đọc hiểu thì vui ấy mà. 😏

Magdalina Truồng : Mình chỉ mới đề cập đến ấu dâm, chưa đề cập đến cưỡng bức ấy. Những hành vi tình dục với 2 bé ở SG và HN gần đây thì rõ là cưỡng bức, công chúng phẫn nộ cũng không oan. […] Theo hiểu biết nông cạn của mình thì chủ yếu Công Giáo ngăn cản đồng tính chứ những nước phương Đông cũng không có luật cụ thể nào về vấn đề này.

► Cái này đơn giản chỉ là 1 fact và tác giả cho ta cái nhìn vào góc tối của lịch sử và ko có gì gọi là cổ xúy ở đây !!! Phải chăng đọc và hiểu của một số người nó khó khăn đến v !?

Magdalina Truồng : Fact thế nào khi có luật xử chết những người quan hệ tình dục với trẻ 12 tuổi trở xuống?

► Như mình có nói, nếu đọc luật Hồng Đức đừng đọc bản dịch (dân Hán Nôm như mình không bao giờ làm như vậy) và không tách ra khỏi bối cảnh văn hóa của nó. Luật Hồng Đức không xử chết những người quan hệ tình dục với trẻ 12 tuổi trở xuống, nó xử “gian dâm”.

Quốc Anh : Thực ra, bài gốc của Phúc Anh và bài phản biện này đều có điểm mình không đồng tình. Nhưng tranh luận xung quanh nó dài dòng quá rồi, mình cũng không đủ khả năng bám theo mà lạm bàn nữa. Mình nghĩ chúng ta cần làm rõ mấy điểm sau: 1) Bài viết gốc của Nguyen Phuc Anh, hẳn nhiên, là có thể viết đúng, có thể viết sai, nhưng mục đích không phải là sự cổ vũ, bao biện cho ấu dâm hay tấn công TD trẻ em. Vì nếu thực sự có tư tưởng như thế, cậu ấy sẽ KHÔNG BAO GIỜ VIẾT NÓ RA. ; 2) Nếu đã là bài viết có tính chất học thuật thì cần đáp lại bằng học thuật, gạt bỏ hoặc hạn chế tối đa cảm xúc hay bất cứ định kiến nào. Thậm chí, kể cả chỉ là những bài viết, quan điểm vu vơ, hàm hồ, thì cũng cần phải được đáp lại bằng học thuật và sự điềm tĩnh. Thành thật mà nói, bản thân mình không đồng tình với nhiều ý trong bài, nhưng tới giờ mình chưa có đủ lý luận vững chắc ( ngoài mấy thông tin lẻ tẻ mình vừa đăng ở comment trên), nên mình không phản biện. ; 3) Một vấn đề luôn cần phân tích đa chiều, dù cho cái chiều hướng đó dẫn ta xuống cống hay vào cung điện, đến cuối cùng, tranh luận không phải là để phân thắng thua mà mục tiêu cao nhất là thay đổi tư duy và cung cấp hiểu biết cho cả 2 phía. Xác định rõ được những cái trên rồi thì ta mới có thể ngồi xuống nói tiếp được. Còn không thì mọi bàn luận đều là hí luận.

Nguyễn Phúc Anh : Cảm ơn anh. Anh có lẽ là người em muốn nói chuyện cùng đối thoại nhất trong suốt 24 giờ vừa qua. 😊

► Đúng rồi, tha thứ cho hiểu biết và góc nhìn thiếu kiến thức chuyên môn của em, em không nghĩ cụm từ “văn hoá truyền thống”, dù cho “ĐÃ TỪNG” có được in đậm đi chăng nữa được dùng trong ngữ cảnh này là thích hợp. Và em cũng nghĩ là nếu như được nhắc đến, đơn cử như trong bộ luật Hồng Đức, thì chứng tỏ vấn nạn này cũng không được xem là “HOÀN TOÀN BÌNH THƯỜNG” đâu ạ. Em sẽ rất cảm kích nếu có ai đó góp ý nếu em hiểu sai. Vì như một số comment, việc dùng những từ như lịch sử, văn hoá hay truyền thống rất dễ bị chụp mũ cho cái gọi là ngụy biện và bào chữa lắm ạ. Tuy nhiên em cũng không nghĩ bài viết này cổ suý cho việc ấu dâm, mà chỉ đơn thuần là một article nghiên cứu về “ấu dâm” trong context lịch sử VN mà thôi.

Nguyễn Phúc Anh : Giời đất, bạn đọc lại comment của tôi về vụ luật Hồng Đức. Đã bảo tìm nguyên bản hán văn mà đọc và đọc trong bối cảnh văn hóa Nho giáo của luật hồng đức.

Magdalina Truồng : Nếu bạn chế giễu trong chính bài viết của bạn thì không nên trông mong tranh luận nghiêm túc. Don’t expect people to take it seriously, it should be treated more like a joke.

Nguyễn Phúc Anh : Nó là một note cá nhân trên facebook của tôi. Bạn thích take nó seriously hay personally thì ai thèm quan tâm chứ. 😝

Magdalina Truồng : Well you sure care enough to come to this page defending that note. 😄

Nguyễn Phúc Anh : Ý là chả quan tâm đến bạn nghĩ hay take nó thế nào. Còn nếu thấy comment dốt nát quá thì phí công viết note, phải ngồi comment thôi. Chuyện bình thường trong công việc ngồi chơi đọc sách trên mạng của mình ấy mà.

Magdalina Truồng : “Comment dốt nát quá”. 😊 Nói chuyện như thế đấy. Thôi bye bạn.

► Em nghĩ,nếu được,chị hãy copy bài này và paste trực tiếp vào comment của bài trên.Và đừng chỉ paste lần một mà hãy chia ý ra mà cmt.Chỉ như thế ta mới có thể chỉnh lại tư tưởng của người đọc đã và đang bị cái bài viết này định hướng.Bởi vì em nghĩ rất ít người quan tâm đến ai đã share và người share viết gì ngay cả chủ nhân của bài viết.Chỉ còn cmt trực tiếp mới gây được chú ý của những người ham tin nhưng thiếu chọn lọc.

Nguyễn Phúc Anh : Làm ơn, copy và paste. Vì tôi đã có những trả lời khá rõ ràng ở dưới. Những bài phản biện cẩu thả thế này thì rất dễ xử lý

► Kiến thức bạn thật sâu rộng. Nhưng tâm thế bạn thật nông cạn.

Nguyễn Phúc Anh : Vâng cảm ơn lời khen nông cạn của bạn. Tùy bạn phán xét.

Magdalina Truồng : Tác giả Nguyễn Phúc Anh trả lời qua loa là định nghĩa ấu dâm của bạn ấy dựa vào định nghĩa hiện đại dùng trong học thuật. Mình bảo trích định nghĩa ấy cho xem thì tác giả bảo nó nằm trong khối sách giáo khoa (coursework) của bạn ấy, để bạn ấy gửi cho mình sau. Nên trước khi bạn Nguyễn Phúc Anh này gửi những tư liệu ấy sang và chỉ ra cụ thể định nghĩa ấy nằm ở đâu thì mình không trả lời thêm nhé. […] Cái tên này bôi bác chủ nghĩa liberal quá đi. Em ở miền Tây nước Mỹ, vùng được cho là rất liberal, mà chẳng ai ở đây xem ấu dâm là bình thường.

Categories: ☺☺ Thời đàm | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cơ Mật viện


Nguyễn Văn Hiệu : Cái bài tớ đăng kia là về các cơ quan có tính chất tình báo chứ chả liên quan gì tới ngự lâm quân đâu. 😛

Kình Văn : Cấm binh, cấm vệ, cẩm y vệ, ngự lâm quân… đều là một cả.

Nguyễn Văn Hiệu : Ừ biết thế !

Kình Văn : Gọi chung là thân binh/vệ, nói thẳng ra là Thiên Lôi chỉ đâu đánh đấy. 💂

Nguyễn Văn Hiệu : Dĩ nhiên, cái đó khỏi bàn. Nhưng tớ còn viết về Cơ Mật viện, là cơ quan có tính tình báo của nhà Nguyễn nữa. Chứ không chỉ nói về Cẩm Y, thôi thì tít thế không sai.

Kình Văn : Tình báo thực sự thì có cấu trúc phức tạp lắm, mà căn bản do hoạt động ngầm. Tình báo viên nổi tiếng nhất trong cổ sử, cậu biết ai không ? 😜

Nguyễn Văn Hiệu : Chính xác thế ! Ngay cả những dòng tớ viết kia, trong hội điển viết dài ít nhất gắp 10 lần. 😳 Cơ chế Cơ Mật viện phức tạp tới độ hack não luôn, tớ đã phải cố gạn phần cơ bản và đơn giản nhất để giới thiệu.

Kình Văn : Ôi lũ ngốc ! Đến thế kỷ nào chúng mới vỡ ra ?

Nguyễn Văn Hiệu : Nó lại còn liên quan từ bộ nọ tới địa phương kia vì Cơ Mật viện có quyền giám sát bộ máy hành chính mà. 😑

Kình Văn : Hồi nhỏ tớ có coi tích chèo Trần Nguyên Hãn giả làm anh bán dầu để đi dò thám. Nói trúng hơn, cơ chế cai trị từ lâu nay là các ban ngành giám sát lẫn nhau. Chứ mấy vị Cơ Mật viện thi thoảng mới họp thôi, thông thường họ giữ những chức như thượng thư chẳng hạn.

Nguyễn Văn Hiệu : Không, Cơ Mật viện họp thường xuyên. Để đảm nhiệm, nhà Nguyễn cho phép các đại thần có thể bê trễ công việc sở tại để ưu tiên cho Cơ Mật viện.

Kình Văn : Tớ nhớ là khi Nhật đảo chánh Pháp, ông đại sứ Nhật phải lật đật chạy từ Saigon vô Huế tìm hoàng đế. 😞 Là tại vì ổng đang đi săn với gái ở cao nguyên, còn mấy vị Cơ Mật thì chả biết đi chơi phương nào, ngay sau đấy là một cuộc họp gấp để ban đạo dụ độc lập. Đấy chắc là sự kiện chính trị amateur nhất Việt Nam.

Nguyễn Văn Hiệu : Đó là Cơ Mật viện thời Pháp thuộc, nó khác. 😀 Lúc đó nhà Nguyễn còn mỗi hư vị, nên các cơ quan trước kia là trọng yếu thì sau này đều thành cái quán nước.

Kình Văn : Phim Ngọn nến hoàng cung là còn nói đỡ cho nhà Nguyễn vài phần đấy, chứ thực sự nát bét hơn nhiều.

Nguyễn Văn Hiệu : Cơ Mật viện tớ muốn đề cập là thời tiền Pháp thuộc, nó có quyền lực và công năng mạnh hơn rất nhiều.

Kình Văn : Cơ quan này ít người biết tới lắm, mà bề ngoài (tức là tòa nhiệm sở) cực sơ sài.

Nguyễn Văn Hiệu : OK OK, những cái đó tớ biết cả rồi. 😀 Cậu nghĩ bao năm nay tớ đọc sách đến mủn mà không rõ những thông tin đó chắc. 😄

Kình Văn : Ý là đám khờ đó không hiểu thực chất của việc chính trị. Cái vỏ thì đơn sơ nhưng bên trong thì vô cùng ly kỳ… và tởm lợm, đâu phải vì quy chế quy chiếc gì (aka, chính trị không dành cho lũ ngu).

Nguyễn Văn Hiệu : Và nhàm chán nữa ~ Hồ sơ Cơ Mật viện lắm khi chỉ lặp lại các chuỗi hoạt động hành chính, đọc đến phát ngấy. Nhưng chính cái đống tẻ ngắt đó lại quyết định vận mệnh của vô số người, và thực ra chúng cho thấy quyền lực phải oai nghiêm cỡ nào.

Kình Văn : Nghề cai trị là làm dâu trăm họ mà, đâu phải đế vương hứng chí thích làm gì cũng được. Cuộc sống nơi cung vua phủ chúa bức bách và tẻ vãi ra, tớ coi ảnh mấy ông hoàng bà chúa mặt cứ xị ra, không có sắc gì cả. Chả phải vì số mệnh u ám hay gì gì (như lời đồn), mà chẳng qua cuộc sống nhàn rỗi quá thôi.

Nguyễn Văn Hiệu : Ôi muộn quá rồi, tớ ngủ vậy.

Kình Văn : Ừ, ngủ đi ! Chúc cậu có giấc mơ hồng. 💤

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngự lâm quân là gì ?


Kình Văn : Cậu giả nhời cái lũ ngộ phim ngôn tềnh làm giề, biểu nó đọc Ba chàng lính ngự lâm là xong. Thề, kiếm tư liệu về ngự lâm quân Pháp cực khó, mà đám này cũng chỉ tồn tại được khoảng chục năm thì bị hồng y Mazarin dẹp vì lo “thằng nhóc” Louis-Dieudonné dùng chúng đâm vào lưng mình. Charles d’Artagnan chính là thuộc thế hệ ngự lâm quân cuối cùng, nhưng gã này không đẹp như truyện đâu : Sau khi đội ngự lâm quân bị bức tử thì hắn tiếp tục làm vệ binh aka gián điệp cho hồng y, đến chót đời thì chết ngu ở chiến trường Maastricht.

Nguyễn Văn Hiệu : Thì cũng phải làm rõ vấn đề cho mấy người hay lãng mạn hóa, chứ để họ mơ mộng lâu quá cũng là không nên.

Kình Văn : Quên nữa là ngự lâm quân chẳng có quy chế ăn mặc cố định gì hết trơn. Thực ra đám đó được Louis XIII cấu ra từ ngạch pháo binh, vậy nên hồi 1980s về trước nhan đề truyện của Alexandre Dumas-père được dịch là Ba chàng ngự lâm pháo thủ. Tớ xin nhắc lại, đó là một công việc hết sức mạo hiểm, và nhìn chung chỉ là con tốt ném qua ném lại giữa các nhà cầm quyền.

Compagnie des Mousquetaires du Roi 1Compagnie des Mousquetaires du Roi 2

Compagnie des Mousquetaires du Roi, 1660 (L. Rousselot) 1Compagnie des Mousquetaires du Roi, 1660 (L. Rousselot) 2

Mình mạo muội trả lời cho câu hỏi của Loc Vinh Pham hôm qua đăng trên này 😊 vẫn vì lời đáp dài nên xin phép đăng ra một stt riêng.

Bạn có hỏi về các cơ quan, bộ phận chuyên trách về tình báo quân sự và tình báo nói chung trong LSVN.

Thứ nhất, cần phải xác định rõ, trong hoạt động gián điệp, mật thám, tình báo… yêu cầu đầu tiên là tính bí mật, làm việc mà lại để cho người ta biết được, thậm chí để cho ngòi bút sử gia ghi lại được, thì không còn gọi là tình báo nữa rồi. Thế nên để tìm thông tin chính xác về lực lượng này ngay trong thời hiện đại bây giờ, cũng đã là điều quá khó khăn, chứ đừng nói là xuôi về xa xưa.

Thứ 2, hoạt động tình báo, gián điệp…ngoài đời thực sẽ không giống như trong phim ảnh và các hình thức văn hóa đại chúng khác, rất hiếm khi xảy ra những tình huống dữ dội, khốc liệt, kỳ ảo, thậm chí có lúc nó lại là một loạt các hoạt động nhàm chán mang tính chất hành chính và không có vẻ trọng đại, hoành tráng.

Vì 2 lý do trên, cộng với hạn chế sử liệu, nên ta tạm thời chưa có được thông tin chi tiết tới tận các hoạt động tình báo trên thực địa, mà chỉ có thể thống kê được các cơ quan và lực lượng có tính chất, hoặc từng thực hiện hoạt động tình báo như dưới đây.

A) Lê Sơ – Lê Trung Hưng.

Thời Lý – Trần về trước thì chưa khảo cứu được, thời Lê Sơ sử sách có ghi nhận Cẩm Y vệ nhà Lê dù là một dạng Cấm quân cũng có một số chức năng mật thám – tư pháp, nhưng về quyền lực lẫn ảnh hưởng thì không thể bằng đồng nghiệp cùng tên bên phía nhà Minh.

Năm Tân Mão, triều đình dụ rằng: “Người có tội oan uổng cũng nên xét lại cho được rõ oan. Vệ Cẩm Y xét kiện và Điện Tiền xét án. Có oan khuất xâm hại phải tâu lên, ngày ngày phải thân đến xét hỏi“. (Sử học bị khảo). Ngoài ra Cẩm Y vệ có quyền giám sát các ngoại sứ, điều này được ghi nhận dưới thời Lê Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư)

Về cơ chế tổ chức của Cẩm Y vệ Lê Sơ, theo “Sử học bị khảo” cung cấp gồm:

– Đừng đầu là Đô chỉ huy sứ, rồi cứ thế xuống dưới theo thứ tự tiếp sau đây: Thiêm tư, Trấn điện tướng quân, Lực sĩ hiệu úy, Đoán sự, Thiên hộ 5 sở, Thiên hộ, Phó thiên hộ. Lương Y sở, Lương Y chính lại.

– Số lượng bính lính thì ở kinh thành là 66 ti, 51 vệ. Quân ngoài các đạo có 26 vệ. Mỗi ti có 100 người, mỗi vệ từ 5-6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội 20 người. Nguồn tuyển chọn chính của Cẩm Y vệ là từ con cháu các khai quốc công thần và quan viên các cấp.

Binh chế thời Lê Trung Hưng như trong “Lịch triều hiến chương loại chí” ghi nhận thì Cẩm Y vệ vẫn được duy trì, trực thuộc Vệ sĩ nội điện quân. Tuy nhiên, lúc này, Hoàng đế nhà Lê cũng chỉ là tượng Phật cho họ Trịnh thờ mà ăn oản, mọi đặc quyền đều bị tước bỏ, bao gồm cả binh quyền, nên dù tồn tại nhưng biên chế Cẩm Y vệ bị thu hẹp lại chỉ còn có 40 người, một con số quá nhỏ so với thời Lê Sơ. Một điều chắc chắn là chức năng mật thám – tư pháp của Cẩm Y vệ cũng đã bị loại trừ.

B) Thời Nguyễn

Dựa theo sử liệu thời Nguyễn để lại (Hội điển, Đại Nam Thực Lục) chúng ta có thông tin về một dạng cơ quan vừa mang tính hành chính, vừa có tính tình báo quân sự, đó là Cơ Mật Viện thời Nguyễn, đây cũng là cơ quan mang tính chất tình báo quân sự duy nhất được ghi nhận rõ ràng trong sử sách VN tới nay.

Cơ Mật Viện (CMV) nhà Nguyễn được lập ra năm Giáp Ngọ (1834), niên hiệu Minh Mệnh thứ 15, dựa trên cơ sở của hình thức Khu Mật Viện của nhà Tống và Quân Cơ Xứ của nhà Thanh, với mục đích là đảm trách những ” việc quân cơ việc nước to lớn, can hệ đến cơ mưu trọng yếu” và “việc mà có người chuyên trách lo thì giường mối nhỏ càng thêm chu toàn”. Có thể coi CMV gần giống Lầu Năm Góc của Hoa Kỳ hiện giờ, kết cấu hành chính cơ bản của CMV bạn có thể tìm thấy trên Google, mình chỉ nói sâu hơn về một số nhiệm vụ và hoạt động của nó mà Google không có.

a) Nhiệm vụ và quyền hạn.

CMV có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

– Xử lý các công vụ lớn liên quan tới việc quân và việc nước của quốc gia (đây là nói chung).

– Giữ chìa khóa của các hòm ấn Quốc Bảo, Ngọc Tỷ, Hoàng Phong…cùng các loại ấn triện quan trọng khác. Đồng thời ghi chép lưu chiểu thông tin việc dùng các ấn triện đó (dùng ngày nào, giờ nào, đóng trên loại giấy tờ nào, ai dùng…).

– Giữ chìa khóa tủ đồ bản, tàng thư của Nội Các (có thể hiểu là các thư tịch trọng yếu của Nội Các).

– Xử lý và phê duyệt một số dạng giấy tờ hành chính công vụ.

– Giữ các “Quyên bản đồ” (Bản đồ vẽ trên lụa) miêu tả các địa thế trọng yếu của quốc gia, bản đồ bố binh.

– Liên lạc, giám sát quan viên các cấp, thông tin lại cho Hoàng đế, hoặc làm trung gian liên lạc giữa Hoàng đế với quan viên.

– Khi Hoàng đế ngự tại các điện Văn Minh, Đông Các, Võ Hiển thì CMV phải phái theo 1 viên ngoại lang để sẵn sàng nghe chỉ dụ.

– Khi Hoàng đế ra khỏi Đại Nội trong 100 dặm, 1 đại thần CMV sẽ đi theo xa giá, nếu đi ra ngoài 100 dặm, thì 2 đại thần đi theo.

– Các phương thuốc, đơn thuốc, sổ thăm khám bệnh của Thái Y viện, đều do CMV sao chép, lưu trữ. Thuốc dâng lên cho Hoàng đế cũng do Cơ Mật Viện và Nội Các cho người kiểm tra.

– Từ cấp suất đội trong lực lượng quân đội trở lên, CMV được quyền tiến cử để Hoàng đế xem xét bổ nhiệm.

– Giám sát hoạt động của thủy sư quân cùng với Bộ Binh và Nội Các.

– Có quyền kiểm sát võ khố (kho quân sự) trong cả nước cùng với Bộ Binh, Bộ Hộ và Đô Sát Viện.

– Ngoài ra CMV còn có một số nhiệm vụ nhỏ khác như kiểm tra tài chính, cơ sở hạ tầng…

– Dĩ nhiên đây mới là các nhiệm vụ và quyền hạn có thể thấy được trên giấy trắng mực đen thôi, còn với tính chất “Cơ Mật” thì cơ quan này còn làm gì nữa chúng ta chưa thể nói thêm được.

b) Hoạt động và cơ chế bảo mật.

– Các nhiệm vụ của CMV đã trình bày ở trên, nhưng nhiệm vụ quan trọng bậc nhất và cũng cho thấy tính chất tình báo rõ nhất của cơ quan này, là nhiệm vụ liên lạc, giám sát quan viên các cấp và thông tin lại cho Hoàng đế, thể hiện qua việc CMV nắm quyền quản lý cơ chế “Thỉnh An sớ”. Xin phép đi sâu một chút vào cái này, nhà Nguyễn có 2 cơ chế tấu sớ như dưới đây:

+) Tấu sớ hành chính theo kiểu cổ điển, mà có lẽ không cần nói chúng ta cũng ta cũng biết và quá quen qua phim ảnh, truyền thông, loại tấu sớ này do Nội Các quản lý chính. Để viết một bản tấu hành chính cổ điển đưa lên cho triều đình (cụ thể ở đây là Hoàng đế), người viết cần dùng loại giấy quy chuẩn, viết theo kiểu chữ chuẩn mực, mà phải viết đẹp (hoặc ít nhất dễ nhìn), nên nảy sinh chuyện nhiều quan viên chữ xấu phải nhờ người viết hộ, viết xong, đóng dấu, rồi sao lại một bản để ở nhiệm sở làm bằng cớ, sau đó mới được nộp lên. Tấu sớ này sẽ đi qua nhiều cấp, cứ mỗi cửa được đóng thêm một cái dấu, hoặc nếu không cũng phải lần lượt qua quy trình xác nhận, hết ngần đó bậc thì đến tay Nội Các, được kiểm tra chi li một lần nữa xem có các lỗi như phạm húy, viết từ tục tĩu….hay không? Rồi Nội Các sao chép tấu sớ thành một bản nữa đem cất giữ, cuối cùng mới tới tay Hoàng đế.

Nói tóm lại dạng tấu sớ cổ điển là một loại văn bản hành chính phiền phức, tốn thời gian, nặng tính quan liêu và đầy bó buộc khiến người viết có phần “chùn tay” khi đặt bút. Ví như thời Tự Đức, tổng đốc Nguyễn Đình Tân trong sớ có câu “Dĩ ngôn thủ vưu, đạo ngật nha phiến” (Nói lời hay nhưng lại lén hút á phiện), đã bị hạch tội khiếm trang (thiếu trang nghiêm), vĩ chữ “vưu” ám chỉ từ “vưu vật” (phụ nữ đẹp), “thủ vưu” trong câu trên, luận ra có nghĩa là “cướp lấy phụ nữ đẹp”, viết như thế cho Hoàng đế xem là bất kính?!. Thêm nữa có lúc các quan viên cũng vì tác trách, vì bận mà “lười” không tấu lên, khiến trung ương chậm trễ nắm tình hình phía dưới.

+) “Thỉnh An sớ” thì lại khác, chịu ảnh hưởng từ cơ chế “mật chiếu” của Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh, được Minh Mạng lập ra vào niên hiệu Minh Mệnh thứ 13 (1833), tới niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1837) thì giao lại cho CMV quản lý. Thỉnh An sớ có nghĩa nôm na là “Sớ hỏi thăm sức khỏe”, về lý thuyết đó là tấu sớ quần thần gửi để vấn an sức khỏe Hoàng thượng, cũng như sau đó Ngài Ngự hỏi thăm, phủ dụ lại, đại loại giống như một cuộc điện thoại tán gẫu khách sáo thông thường, nhưng kì thực trong sớ này, hỏi thăm sức khỏe là phụ, thậm chí có lúc chả hề được nhắc tới. Mà nội dung chính của nó lại là đủ thứ chuyện như: thiếu sót về mặt chính trị, quân sự, tiến cử nhân tài, tố cáo cấp dưới, vạch tội cấp trên, tình báo quân sự, báo cáo kinh tế….tất cả các quan viên thuộc các cấp Tổng đốc, Án sát, Tuần phủ, Bố chánh trên cả nước đã làm việc được 3 năm, cứ tháng đầu 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông đều phải gửi Thỉnh An sớ, nhưng nếu có việc đột xuất thì không cần đợi đúng hạn mà gửi ngay tức khắc cũng được.

Về hình thức tổ chức, CMV thừa lệnh Hoàng đế phát cho Tổng đốc, Án sát, Tuần phủ, Bố chánh các tỉnh trong cả nước mỗi người 3 cái hộp bằng sắt, bên ngoài sơn đỏ, nắp thếp vàng, trên viết tên địa phương, đi kèm với đó là 1 bộ chìa khóa cho hộp. Các quan phải tự tay viết Thỉnh An sớ, chữ đẹp xấu không quan trọng, nếu là võ quan không biết chữ thì có thể nhờ người viết hộ, nhưng phải khai rõ thông tin người viết hộ trong sớ, ai biết chữ mà vẫn cố tình nhờ người khác viết cho sẽ bị xử tội, như trường hợp của Tổng đốc Tạ Quang Cự vào năm Minh Mệnh thứ 16 (1836) vì nhờ người viết hộ Thỉnh An sớ mà bị cắt 3 tháng bổng lộc.

Hoàn thành sớ rồi thì chỉ cần kí tên (điểm chỉ) không cần đóng dấu, không cần làm bản sao, bỏ thẳng vào hộp sớ, khóa lại, đưa cho phu chạy trạm gửi về triều, nếu không thậm chí có thể đưa cho thân tín, con cháu cũng được, cứ đến kinh gửi vào Thị Vệ xứ, từ đó đến tay Hoàng đế (Hoàng đế có chìa khóa để mở mọi hộp sớ trong cả nước), xem xét phê chuẩn xong rồi thì Hoàng đế giao xuống cho CMV đóng dấu, ra lệnh thi hành, bản sớ gốc sẽ được giữ lại trong tủ hồ sơ của của viện, hộp sớ rỗng được gửi trả cho người viết.

Nếu Hoàng đế còn có chỉ đạo riêng, thì sẽ làm một bản dụ có phê phong bằng mực son, bỏ vào hộp sớ, gửi trả về cho quan viên viết sớ. Vị quan viên đó nhận được bản dụ, phải tức khắc viết một tấu sớ khác, trong đó khai rõ mình được trả và mở hộp sớ, nhận bản dụ vào ngày nào, giờ nào, đã thừa hành những gì…Sau đó, bỏ bản dụ gốc cùng tờ sớ mới viết vào hộp sớ, lại gửi về cho Hoàng đế, ai chỉ gửi trả bản dụ gốc mà không gửi kèm sớ xác nhận sẽ bị trị tội. Như trường hợp vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1845), Nguyễn Tri Phương khi đó là thự Tổng đốc Long Tường, do quên gửi sớ xác nhận, mà bị Hoàng đế Thiệu Trị viết chỉ trách mắng và trừ bổng lộc.

Trong Thỉnh An sớ Hoàng đế dễ dàng viết các lời châu phê chỉ đạo hơn vì tính bí mật, trừ khi Hoàng đế cho phép, còn lại bất cứ ai cướp hay tự tiện phá hộp sớ ra để xem hoặc hủy thư tịch bên trong, sẽ khép tội khi quân, là tội chết.

Với ưu điểm vừa chặt chẽ lại vừa nhanh gọn của mình, Thỉnh An sớ rất được các Hoàng đế nhà Nguyễn ưa chuộng, tuy nhiên, vì sớ này được gửi lên trực tiếp không hoặc chỉ qua có 1 khâu trung gian sơ lược là CMV, nên tấu sớ dâng lên cũng thượng vàng hạ cám, có khi hợp lý phản ánh đúng vấn đề, có khi thì chả ra gì, làm Hoàng đế đọc… phát cáu.

– CMV có con ấn riêng khắc dòng chữ “Cơ Mật Viện Ấn” bằng chữ triện, đúc bằng bạc, trên khắc hình con lạc đà.

– Tất cả quan viên, nha lại trong CMV bị cấm tiết lộ thông tin, thư tịch ra bên ngoài.

– Quan lại các cấp, trừ khi có lệnh đặc phái, còn không thì cấm được tự tiện vào CMV, nếu vi phạm thì sẽ bị nghiêm trị, lính canh không phát hiện và cản trở nổi bị xử đồng tội.

– Để đảm bảo an ninh và bảo mật, hàng ngày quan lại ở CMV dù không trong ca trực thì cứ khi chuông sáng điểm 2 giờ, chuông chiều điểm 4 giờ đều phải tới kiểm diện.

– Bên cạnh lính canh vòng ngoài, ngay trước cửa tòa nhà trụ sở chính của CMV luôn được bố trí 1 đội trưởng Cẩm Y và 5 lính đeo thẻ bài sừng, canh giữ ngày đêm.

– Người làm việc ở CMV có thẻ bài đeo riêng trên ngực áo ghi rõ chức danh như “Cơ Mật Viện đại thần”,”Cơ Mật Viện thị lang”… quan đại thần đeo thẻ bằng bạc mạ vàng, các cấp dưới bằng ngà. Thẻ bài của quan lại nhà Nguyễn đều hình chữ nhật, chỉ có thẻ bài CMV là có đầu tròn. Quan lại CMV mà không đeo thẻ bài không được phép vào viện, ai được CMV triệu tới cũng phải được phát cho thẻ bài.

– Khi tháp tùng Hoàng đế đi bằng đường thủy, các ấn triện, thư tịch do Cơ Mật Viện giữ cũng như các thành viên Cơ Mật viện đều được đi thuyền riêng có lính thủy hộ tống.

– Với từng loại giấy tờ, CMV có một cơ chế xử lý khác nhau để đảm bảo tính bảo mật và hợp lý, ví dụ:
+) Công văn Hoàng đế dụ viết bằng mực son, CMV sẽ lưu trong thư khố.
+) Tấu sớ sau khi gửi lên cho Hoàng đế duyệt, được đưa xuống cho viện, nếu có châu phê thì CMV kiểm tra rồi chuyển cho nội các.
+) Sớ chương do các nha viện trong kinh dâng, CMV được giao xem trước, cho làm phiếu xét bàn, sau đó đem bản thảo ghi chép của buổi xét bàn trình Hoàng đế.

– Đồng thời cũng để đảm báo độ cơ mật, tất cả các cơ quan, địa phương, cá nhân được CMV chỉ đạo, thì trên giấy tờ không được nói đó là thừa lệnh CMV. Nhận được thông báo từ CMV mà muốn báo lại thì không được đệ trình trực tiếp lên CMV mà trình tới các bộ có liên quan tới việc đó, CMV có quyền xem xét các bộ nên sau đó có thể nắm được thông tin, ai làm trái lệnh đều bị xử phạt.

Tóm lại, CMV vừa có tính chất hành chính, vừa có tính chất tình báo, là một trong các cơ quan có quyền lực lớn bậc nhất, cũng đồng thời có cơ chế bảo mật, liên lạc chặt chẽ và kín kẽ nhất của nhà Nguyễn.

Trên đây là một số thông tin mình biết, có thể nó còn có chỗ sai sót, và chưa thỏa mãn thắc mắc, mong các bạn lượng thứ và góp ý.

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | 2 phản hồi

Hôn lễ hoàng gia An Nam gồm những sính vật gì ?


Minh đang thắc mắc một chút về các quy chế hôn sự, cưới gả của hoàng gia trong lịch sử Việt Nam. Có tài liệu nào để tham khảo hay có ai có thể cung cấp thông tin cho mình được không? Nói cụ thể hơn là mình thắc mắc nhất về quy định số tiền bạc sẽ được dùng cho hôn sự ấy, vì đọc sử thấy người ta nói nhiều về mấy việc lễ nghi trong cưới hỏi nhưng chả chả thấy nhắc về chuyện tiền nong. 😃

Un mariage 1907

Hôm qua có bạn đăng trên này hỏi về quy định chuyện vật chất ở hôn sự của hoàng tộc trong LSVN, mình định comment luôn bên dưới nhưng do dài nên hôm nay mình đáp lại bằng một stt riêng vậy.

– Trong lịch sử thời Lý – Trần về trước chưa khảo xét được vì thiếu tài liệu, chỉ sót lại các ghi chép lẻ tẻ về chuyện cưới gả trong hoàng gia, nhưng không đủ thông tin về các quy định rõ ràng của triều đình trong việc này.

– Thời Lê Sơ – Lê trung Hưng, “Lịch triều hiến chương loại chí” trong phần “Quốc dụng chí” có đề cập tới hầu hết các loại thuế má – thưởng cấp, nhưng các khoản chu cấp trong hôn sự thì không thấy có, không hiểu tại sao ?! (Cũng có thể do mình chưa xem xét được nhiều tại liệu nên chưa biết).

– Thời Nguyễn, là thời kỳ gần nhất nên rất may còn lưu giữ lại được hầu hết các thư tịch liên quan. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (Xin gọi tắt là Hội Điển) có cung cấp thông tin về chế độ cấp phát cho các hoàng nữ – hoàng tử như dưới đây.
A) Của hồi môn của hoàng nữ trong hoàng tộc.

– Hoàng trưởng nữ (Con gái trưởng) của Hoàng hậu của hồi môn các loại quy ra tiền được cấp: 50.000 quan.
– Hoàng thữ nữ (Con gái thứ) của Hoàng hậu: 40.000 quan.
– Hoàng trưởng nữ nhưng không do Hoàng hậu sinh ra: 30.000 quan.
– Hoàng thứ nữ không do Hoàng hậu sinh ra: 30.000 hoặc 20.000 quan.

– Trưởng nữ do Chính phi của Hoàng thái tử (HTT) sinh ra: 8000 quan.
– Thứ nữ của Chính phi HTT: 5000 – 6000 quan.
– Trưởng nữ do các thứ phi của HTT sinh ra: 5000 quan.
– Thứ nữ của Thứ phi HTT: 4000 quan

– Con gái trưởng của các Hoàng tử (HT) và Công tước (CT) do Chính phi – Chính thất sinh ra: 5000 quan
– Con gái thứ sinh ra bởi Chính phi – Chính thất của HT – CT: 3000 quan.
– Thứ nữ sinh ra bởi Thứ phi – Vợ lẽ trở xuống của HT – CT: 2000 quan.

– Cháu gái trưởng của HTT do đích mẫu sinh ra: 3000 quan.
– Cháu gái thứ HTT do thứ mẫu sinh ra: 2000 quan.
– Cháu gái trưởng HTT do thứ mẫu sinh ra: 2000 quan.
– Cháu gái thứ HTT do thứ mẫu sinh ra: 1000 quan.

– Cháu gái trưởng của HT – CT do đích mẫu sinh ra: 1500 quan.
– Cháu gái thứ của HT – CT do đích mẫu sinh ra: 1000 quan.
– Còn lại đều là 700 quan.

– Con gái trưởng của Trưởng công chúa và công chúa: 3000 – 2000 quan.
– Con gái thứ: 1000 quan.

– Con gái trưởng của các CT thuộc họ xa do đích mẫu sinh ra: 2500 quan.
– Con gái do thứ mẫu sinh ra bất kể trưởng thứ đều 2000 quan.

B) Sính lễ của hoảng tử khi lấy vợ và của nhà trai khi được gả hoàng nữ cho.

– Sính lễ cơ bản của Hoàng tử được chia làm 2 lần đưa, lần 1 được đưa vào ngày truyền chỉ định hôn bao gồm:
+) 1 mâm trầu cau, 2 hũ rượu tốt.
+) Tam sinh (trâu – lợn – bò) mỗi thứ 1 con.
+) Xuyến vàng – hoa tai vàng – chuỗi ngọc trai: 1 đôi.
+) 1 bộ trâm vàng.
+) 6 tấm gấm thêu, 10 tấm lụa thượng hạng, 20 tấm vải tốt.
+) 2 nén vàng – 4 nén bạc.

– Lần đưa sính lễ thứ 2 là vào hôm đón dâu, gồm:
+) Tam sinh, trầu, rượu như trên.
+) 1 xuyến vàng – 1 trâm vàng.
+) 4 nén vàng – 6 nén bạc.
+) 10 tấm gấm thêu, 20 tấm lụa thượng hạng, 30 tấm vải tốt.
+) 1 bộ đồ mặc tốt với váy áo, hài thêu cho cô dâu.
+) 1 bộ kiệu và lọng.
– Sở dĩ gọi là “sính lễ cơ bản” vì ngày xưa số sính lễ nhiều ít, đưa mấy lần còn do nhà gái thỏa thuận với nhà trai, trong quá trình chuẩn bị nhà gái có thể chấp nhận hoặc đòi hơn mức trên.

– Về sính lễ của nhà trai đưa đến khi cưới hoàng nữ. Trước hết, xét theo tôn ti xã hội phong kiến, các hoàng nữ dẫu là phụ nữ thì vẫn ở vị trí cao bậc nhất, hoàng nữ đi lấy chồng, vốn đã là sự ban ơn cho nhà trai (nên thời Nguyễn gọi việc xuất giá này là “hạ mã” – xuống ngựa), nếu đưa lễ vật cho hợp danh phận thì thực không biết bao nhiêu cho đủ, mà nhà trai cũng chả biết có kiếm nổi tài vật để dâng lễ.

– Hoàng đế Thiệu Trị hiểu được điều này nên có xuống chiếu như sau :”Đời xưa vua Nghiêu gả 2 con gái cho Ngu Thuấn ở Vi Nhuế chả nghe nói lễ cưới sang trọng. Hơn nữa đám cưới chỉ dùng hai da hươu làm lễ, xưa kia vẫn nói thế. Nay gả Hoàng nữ cho con các đại thần. Mà các đại thần thanh thận trung cần, trẫm vẫn biết sẵn. Vậy 6 lễ cưới (nạp thái , vấn danh vv.. ) cho tùy theo cảnh nhà giầu nghèo mà sắm sửa, không nên ấn định lễ vật. Bộ lễ bàn định các thứ phẩm vật, chớ nên bầy đặt quá nhiều. Vậy các chủ hôn cần biết rõ “

– Tuy thế, đến nhà dân thường dựng vợ gả chồng cho con dù nghèo cũng cố xoay sở sao cho tươm tất nhất có thể, đây lại là lấy hoàng nữ về làm dâu, dẫu Hoàng đế có răn dạy như trên, nhưng các quan có dám dùng lễ đơn giản mà đón dâu hay không, cái đó cũng khó nói.

– Nếu như của hồi môn của hoàng nữ và sính lễ hoàng tử được định lệ tương đối chặt chẽ. Thì ngược lại, sính lễ của nhà trai khi cưới hoàng nữ lại khá mềm dẻo, gần như không có tính thống nhất, mỗi thời vua, mỗi năm, thậm chí mỗi đám cưới trong năm, triều đình lại đưa ra các định mức sính lễ khác nhau tùy theo điều kiện nhà trai. Có khi chỉ rõ các lễ vật phải dâng rất chi li, món này dùng trong lễ này, vật này dâng vào lễ nọ. Lúc lại lệnh dâng sính lễ một lần gộp cho cả mấy lễ một lúc, lần thì nói rất chung chung và đơn giản là vào ngày ấy, giờ ấy, lễ ấy thì cứ mang các thức lễ vật đến, định lượng bao nhiêu không nói…..

– Chính vì quy định sính lễ đón dâu quá đa dạng, hay biến đổi, nên mình không thể thống kê hết được, chỉ xin đưa ra mấy ví dụ điển hình dưới đây:
+) Năm Gia Long thứ 4 (1806) quy định lễ vấn danh, nhà trai trước một ngày phải mang tới 2 con lợn mổ, 2 con lợn quay, 2 mâm xôi gấc, 2 mâm trầu cau.

+) Năm Gia Long thứ 7 (1809), lại bỏ quy định trên thay bằng việc hôm làm lễ vấn danh chính thức, nhà trai mang sính lễ gồm: trâu – lợn 1 con, 1 mâm trầu cau, 4 tấm gấm, 10 tấm lĩnh the, 2 hũ rượu tốt, 1 đôi xuyến vàng, 1 nén vàng, 16 nén bạc.

+) Cùng năm trên quy định lễ nghinh hôn dùng sính lễ là: tam sinh (trâu – bò – lợn) mỗi thứ 2 con, 1 mâm cau trầu, 2 hũ rượu tốt, 1 nén vàng, 24 nén bạc, 20 tấm lĩnh the, 6 tấm gấm.

+) Năm Minh Mệnh thứ 5 (1825) quy định sính lễ gộp luôn cho lễ vấn danh và nạp thái gồm: một cỗ tiền 100 đồng, 4 tấm gấm thêu, 10 tấm lĩnh màu, 1 cặp tóc vàng, 12 trâm phượng vàng. Còn lại theo như lễ cũ.

+) Đến năm Minh Mệnh thứ 14 (1834) lại sửa, quy định lễ nạp thái phải đưa sính lễ là: 4 mâm trầu cau, 100 lạng bạc, 20 lạng vàng. Còn lễ vấn danh thì đưa 2 hũ rượu tốt, 2 con lợn, 2 trâu.

…….

Trên đây là một số thông tin mình biết được, có thể còn có thiếu sót, mong mọi người góp ý vậy !  

Quốc-anh Nguyễn-văn-Hiệu

Categories: ❀ VĂN SỬ | Nhãn: | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: